Các nhiệm vụ khác
- Nghiên cứu quy trình công nghệ tạo chế phẩm CoQ10 từ Agrobacterium tumefaciens tái tổ hợp để sản xuất thực phẩm chức năng
- Xây dựng mô hình ứng dụng tiến bộ kỹ thuật tổng hợp xử lý môi trường làng nghề và khu vực gần khu công nghiệp
- Nghiên cứu áp dụng đồng bộ các tiến bộ khoa học công nghệ để đẩy mạnh ngành chăn nuôi bò theo hướng tăng năng suất chất lượng và an toàn dịch bệnh trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng
- Nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn về nghĩa vụ pháp lý và bồi thường thiệt hại trong lĩnh vực an toàn sinh học đối với sinh vật biến đổi gen nhằm đề xuất xây dựng các quy định pháp lý tại Việt Nam
- Nghiên cứu xây dựng kế hoạch phòng ngừa và ứng cứu sự cố tràn dầu khu vực tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu và Côn Đảo
- Nghiên cứu tình trạng một số gen liên quan chuyển hóa sự thay đổi cấu trúc mô gan ở người phơi nhiễm chất da cam/dioxin
- Nghiên cứu đánh giá trình độ tập luyện của vận động viên thể dục thể hình Thành phố Hồ Chí Minh
- Nghiên cứu đề xuất chính sách đặc thù hỗ trợ phát triển vùng dân tộc thiểu số và miền núi có điều kiện kinh tế-xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn
- Nghiên cứu một số giải pháp khoa học công nghệ nhằm nâng cao năng suất chất lượng tơ kén - Đề tài nhánh: Sổ số liệu thô: Nghiên cứu chế độ tưới nước cho cây dâu ở Lâm Đồng
- Nghiên cứu ứng dụng nano kẽm oxid (ZnO) để phòng trừ bệnh đốm lá (Cercospora sp) trên cây lan Dendrobium
liên kết website
Lượt truy cập
- Kết quả thực hiện nhiệm vụ
01/KQNC-TTKHCN
Phát triển kỹ thuật sản xuất giống và nuôi thương phẩm lươn đồng (Monopterus albus Zwiew 1793) tại huyện Vĩnh Thạnh TP Cần Thơ
Trường Đại Học Cần Thơ
UBND TP. Cần Thơ
Cơ sở
ThS. Nguyễn Thanh Hiệu
PGS.TS. Dương Nhựt Long, KS. Phạm Thị Cẩm Lài, TS. Bùi Minh Tâm, KS. Lương Công Tâm, KS. Phan Văn Năm, KS. Nguyễn Thị Hoàng Nhiên, KS. Phạm Thị Thúy Ân, KS. Nguyễn Thanh Phong
402 - Chăn nuôi
01/02/2014
01/02/2016
2016
Cần Thơ
66
Dự án “Phát triển kỹ thuật sản xuất giống và nuôi thương phẩm lươn đồng (Monopterus albus) tại huyện Vĩnh Thạnh, TP Cần Thơ” đươc thực hiện tại các hộ dân ở các xã Vĩnh Trinh, Vĩnh Bình và Thạnh Lộc huyện Vĩnh Thạnh, TP Cần Thơ từ tháng 2 năm 2014 đến tháng 12 năm 2015. Sau gần 2 năm thực hiện dự án đã đạt đƣợc một số kết quả như sau:
Sau 4 tháng nuôi vỗ hệ số thành thục của lươn đồng ở các điểm thực nghiệm dao động từ 5,38 – 6,34% ở lươn cái và 0,14 – 0,19% ở lƣơn đực. Tỉ lệ thành thục trung bình của lươn đồng là 72,2±8,61%. Sức sinh sản của lƣơn đồng thấp dao động từ 445 – 657 trứng/cá thể ở khối lƣợng dao động từ 96,9 – 126 g/con. Tỉ lệ lươn đồng tham gia sinh sản ở nghiệm thức sinh sản tự nhiên là 60,7±13,3% thấp hơn so với phương pháp kích thích lươn đồng sinh sản bằng HCG là 74±15,6%. Tỉ lệ trứng thụ tinh và tỉ lệ nở của trứng ở nghiệm thức sinh sản tự nhiên là 84,5±3,51% và 90,1±1,89% cao hơn so nghiệm thức kích thích sinh sản bằng HCG là 79,9±3,52% và 88 ±1,70%. Khi ương từ lươn bột lên lươn giống, sau 90 ngày ương lươn giống ở các bể đạt khối lƣợng dao động từ 3,84 – 4,13 g, tƣơng ứng với chiều dài là 18,75 – 19,69 cm và tỉ lệ sống dao động 24,8 – 36,5%. Thí nghiệm sử dụng thức ăn là trùn chỉ để ƣơng giống lƣơn đồng cho tăng trưởng và tỷ lệ sống cao, ở mật độ 50 con/L trong thời gian 30 ngày. Đất là giá thể nuôi thƣơng phẩm lươn đồng cho khối lượng trung bình (203,6 g), tỉ lệ sống (62,1%) và năng suất (18,9 kg/m2) cao hơn so với giá thể thực vật thủy sinh (186,8 g; 61,3% và 17,2 kg/m2) và giá thể vĩ tre (135,3 g; 42,8% và 8,7 kg/m2). Thức ăn tươi sống nuôi thương phẩm lươn đồng cho khối lƣợng trung bình 221,2 g và năng suất là 19,17 kg/m2 lớn hơn so với thức ăn chế biến có khối lƣợng trung bình là 192,6 g và năng suất là 17,25 kg/m2. Tỉ lệ sống ở nghiệm thức thức ăn tƣơi sống (60,73%) thấp hơn so với thức ăn chế biến (63,67%).
Hiệu quả lợi nhuận mang lại từ mô hình nuôi lƣơn ở giá thể đất là 11.980.000 đ/15m2
cao hơn so với giá thể thực vật và vĩ tre lần lƣợt là 7.038.000 đ/15m2 và 546.000 đ/15m2. Lợi nhuận mang lại từ thực nghiệm nuôi lươn đồng bằng thức ăn tươi sống là 12.190.000 đ/15m2 cao hơn so với thức ăn chế biến là 6.916.000 đ/15m2.
Trung tâm Thông tin KH&CN Cần Thơ
CTO-KQ2016-01/KQNC
