Các nhiệm vụ khác
- Hoàn thiện quy trình kỹ thuật nuôi dưỡng để phát triển chăn nuôi gà Sasso
- Nghiên cứu hiện tượng mực nước biển dâng dị thường không phải do bão xảy ra tại cac vùng cửa sông ven biển Việt Nam
- Nghiên cứu cơ sở khoa học xác định mức độ ô nhiễm môi trường của các nguồn phóng xạ tự nhiên để xây dựng quy trình công nghệ đánh giá chi tiết các vùng ô nhiễm phóng xạ tự nhiên - Quy trình công nghệ đánh giá chi tiết các vùng ô nhiễm phóng xạ tự nhiên
- Nghiên cứu điều chế axit ferulic từ sản phẩm dầu kiềm thải của nhà máy trích ly cám gạo ở Cần Thơ bằng phương pháp thủy phân kết hợp sóng siêu âm nhằm phục vụ cho lĩnh vực y dược
- Nghiên cứu các chỉ tiêu kỹ thuật của nền san hô và tương tác giữa kết cấu công trình và nền san hô
- Hoàn thiện công nghệ và thiết bị sản xuất phân bón lá dạng hữu cơ Pomior và ứng dụng nhằm nâng cao năng xuất chất lượng một số cây trồng - Báo cáo chuyên đề
- Các vật liệu tương tự graphene và các cấu trúc ghép giữa chúng
- nghiên cứu xây dựng chính sách phát triển công nghiệp vật liệu đến năm 2030 tầm nhìn đến năm 2045
- Bệnh quan liêu trong công tác cán bộ trong điều kiện Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền - Thực trạng và giải pháp để đề phòng và khắc phục
- Tổ chức các ngày hội khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia năm 2017
liên kết website
Lượt truy cập
- Kết quả thực hiện nhiệm vụ
20/KQNC-TTKHCN
Nghiên cứu đột biến gen KRAS BRAF NRAS và PIK3CA trong ung thư biểu mô tuyến đại trực tràng tại bệnh viện Ung bướu thành phố Cần Thơ
Bệnh viện Ung bướu thành phố Cần Thơ
UBND TP. Cần Thơ
UBND TP. Cần Thơ
Tỉnh/ Thành phố
PGS.TS.BS. Huỳnh Quyết Thắng
ThS.BS Nguyễn Hồng Phong, ThS.BS Võ Văn Kha, ThS.BS Hồ Long Hiển, ThS.BS Hoàng Đức Trình, BS. Nguyễn Hữu Thanh
3 - Khoa học y, dược
03/2013
12/2015
2015
Thành phố Cần Thơ
133
Mục tiêu: Xác định đặc điểm đột biến gen KRAS, NRAS, BRAF, PIK3CA trong ung thư biểu mô tuyến đại-trực tràng tại bệnh viện Ung bướu thành phố Cần Thơ.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Mô tả cắt ngang 50 trường hợp ung thư biểu mô tuyến đại-trực tràng được chẩn đoán và điều trị tại bệnh viện Ung bướu Cần Thơ. Giải trình tự chuỗi DNA gen KRAS (exon 2),
NRAS (exon 2, 3), BRAF (exon 15) và PIK3CA (exon 9, 20) để xác định đột biến và mối liên quan với một số đặc điểm lâm sàng, giải phẫu bệnh.
Kết quả: Trong 50 trường hợp khảo sát gen KRAS, NRAS, BRAF, PIK3CA chúng tôi ghi nhận tỉ lệ đột biến lần lượt là KRAS(34%), NRAS (0%), BRAF ( 2%) và PIK3CA (6%). Tất cả đều là đột biến điểm. Tỷ lệ đột biến gen
KRAS tại codon 12 và 13 là 26%. Chỉ có 1 trường hợp đột biến ở codon 10. Tỉ lệ mất biểu hiện protein PTEN là 14%. Tỉ lệ đột biến KRAS ở trực tràng (48,1%) cao hơn so với đại tràng (17,4%) với P=0,022. Các đặc điểm bệnh học khác như giới, loại mô học, độ mô học, giai đoạn TNM không có liên quan với đột biến gen KRAS. Đột biến gen PIK3CA thường gặp ở nhóm bệnh nhân < 50 tuổi (6%) và nữ (6%) cao hơn so với nhóm bệnh nhân ≥ 50 tuổi (0%) và nữ (0%) với P=0,042 và P = 0,036.
Kết luận: Tỷ lệ đột biến KRAS trên bệnh nhân ung thư biểu mô tuyến đạitrực tràng tại bệnh viện Ung bướu Cần Thơ là 34%. Đột biến gen KRAS có liên quan với vị trí u. Đột biến PIK3CA liên quan với tuổi, giới tính. Chưa ghi
nhân đột biến NRAS. Có 1 trường hợp đột biến BRAF dạng K601E cũng là một trong số các dạng đột biến gây hoạt hóa quá mức hoạt động của protein BRAF. Có 27/50 (54%) bệnh nhân ung thư biểu mô tuyến đại trực tràng có ít nhất một yếu tố tiên đoán đáp ứng kém với kháng thể đơn dòng kháng EGFR như: có đột biến KRAS; BRAF; PIK3CA; mất biểu lộ protein PTEN.
Trung tâm Thông tin KH&CN Cần Thơ
CTO-KQ2016-20/KQNC
