Các nhiệm vụ khác
- Nghiên cứu quy trình công nghệ tạo chế phẩm CoQ10 từ Agrobacterium tumefaciens tái tổ hợp để sản xuất thực phẩm chức năng
- Xây dựng mô hình ứng dụng tiến bộ kỹ thuật tổng hợp xử lý môi trường làng nghề và khu vực gần khu công nghiệp
- Nghiên cứu áp dụng đồng bộ các tiến bộ khoa học công nghệ để đẩy mạnh ngành chăn nuôi bò theo hướng tăng năng suất chất lượng và an toàn dịch bệnh trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng
- Nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn về nghĩa vụ pháp lý và bồi thường thiệt hại trong lĩnh vực an toàn sinh học đối với sinh vật biến đổi gen nhằm đề xuất xây dựng các quy định pháp lý tại Việt Nam
- Nghiên cứu xây dựng kế hoạch phòng ngừa và ứng cứu sự cố tràn dầu khu vực tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu và Côn Đảo
- Nghiên cứu tình trạng một số gen liên quan chuyển hóa sự thay đổi cấu trúc mô gan ở người phơi nhiễm chất da cam/dioxin
- Nghiên cứu đánh giá trình độ tập luyện của vận động viên thể dục thể hình Thành phố Hồ Chí Minh
- Nghiên cứu đề xuất chính sách đặc thù hỗ trợ phát triển vùng dân tộc thiểu số và miền núi có điều kiện kinh tế-xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn
- Nghiên cứu một số giải pháp khoa học công nghệ nhằm nâng cao năng suất chất lượng tơ kén - Đề tài nhánh: Sổ số liệu thô: Nghiên cứu chế độ tưới nước cho cây dâu ở Lâm Đồng
- Nghiên cứu ứng dụng nano kẽm oxid (ZnO) để phòng trừ bệnh đốm lá (Cercospora sp) trên cây lan Dendrobium
liên kết website
Lượt truy cập
- Kết quả thực hiện nhiệm vụ
Đánh giá mức độ hài lòng của người dân về kết quả xây dựng nông thôn mới (NTM) trên địa bàn tỉnh Hậu Giang
Đại học Cần Thơ (Khoa Phát triển Nông thôn)
Tỉnh/ Thành phố
TS. Nguyễn Thùy Trang
Phó giáo sư, tiến sĩ Nguyễn Duy Cần, Phó giáo sư, tiến sĩ Nguyễn Phú Son, Tiến sĩ Võ Hồng Tú, Thạc sĩ Đỗ Văn Hoàng, Thạc sĩ Lê Văn Dễ, Huỳnh Thành Hữu, Thạc sĩ, Trịnh Thị Chúc Ly, Cử nhân Nguyễn Văn Linh, Cử nhận Trần Văn Khoa, Thạc sĩ Phạm Minh Trí
5 - Khoa học xã hội
01/12/2018
01/05/2020
2020
Hậu Giang
214
Để đáp ứng các mục tiêu và nội dung nghiên cứu trên, đề tài đã thực hiện phỏng vấn 458 hộ ở ba nhóm xã hoàn thành tốt, hoàn thành khá và hoàn thành trung bình các tiêu chí về xây dựng NTM. Để phân tích mức độ hài lòng của người dân, nghiên cứu sử dụng phân tích nhân tố khám phá và phân tích hồi quy tương quan. Kết quả nghiên cứu cho thấy, người dân có mức hài lòng khá cao đối với chương trình xây dựng NTM và có 04 nhóm nhân tố ảnh hưởng mức độ hài lòng của người dân về chương trình xây dựng NTM, gồm vai trò của chính quyền và người dân, thông tin và kiến thức, lợi ích của chương trình và tham gia của người dân. Trong đó, nhân tố hưởng thụ lợi ích từ chương trình NTM có tác động lớn nhất và tương quan thuận với mức độ hài lòng của người dân về xây dựng NTM.
Đối với tác động của chương trình xây dựng NTM, kết quả nghiên cứu cho thấy chương trình có tác động tích cực đến thu nhập và đời sống kinh tế xã hội tại địa bàn nghiên cứu. Thông qua phương pháp phân tích điểm xu hướng với phương pháp so sánh cận gần nhất, kết quả phân tích cho thấy tổng thu nhập của hộ sau khi có chương trình xây dựng nông thôn mới tăng lên 56,246 triệu đồng/năm ở mức ý nghĩa thống kê 10%. Đối với phương pháp so sánh phạm vi/bán kính, nghiên cứu cho thấy tổng thu nhập của hộ tăng lên 20,662 triệu đồng/năm ở mức ý nghĩa 1%.
Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy, người dân tham gia khá tốt vào chương trình xây dựng NTM theo phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm và dân kiểm tra”. Thêm vào đó, tỷ lệ hộ có tham gia đóng góp vào chương trình NTM cũng khá cao, chiếm khoảng 61,8%. Kết quả hồi quy logit cho thấy có 07 biến ảnh hưởng đến sự tham gia đóng góp của người dân vào chương trình xây dựng NTM, gồm gia đình văn hóa, tuổi, tham gia đoàn hội, lợi ích về môi trường, lợi ích về hạ tầng kinh tế, nhóm xã hoàn thành khá và hoàn thành trung bình. Nghiên cứu đã đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường và thu hút sự tham gia của người dân vào chương trình xây dựng NTM.
hgi-2020-005
