Các nhiệm vụ khác
- Nghiên cứu các giải pháp kỹ thuật phục hồi rừng ngập mặn bị suy thoái tại một số vùng sinh thái trọng điểm ven biển Việt Nam (Bắc Bộ Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ)
- Một số nghiên cứu thiết lập chuẩn tia X và bảo đảm chất lượng trong xạ trị
- Sản xuất và sử dụng các pheromore đặc hiệu phòng trừ sâu hại phục vụ sản xuất rau an toàn
- Nghiên cứu đề xuất một số chính sách hỗ trợ khuyến khích phát triển hợp tác xã nông nghiệp trên địa bàn Hải Phòng
- Đổi mới kế hoạch hóa phân phối lưu thông vật tư
- Nghiên cứu chính sách thương mại quốc tế của các nước Nam Mỹ và đề xuất chính sách cho Việt Nam
- Phương pháp đào tạo các chức danh tư pháp
- Nghiên cứu cải tiến lò cung cấp nhiệt cho máy sấy và hệ thống hút bụi cho các nhà máy chế biến chè đen
- Hoạt động của tổ cấp cứu 115 bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Dương: Thực trạng và giải pháp
- Nghiên cứu thiết kế chế tạo một số loại máy gieo máy cấy phù hợp với kỹ thuật canh tác lúa ở Việt Nam - Một số bản vẽ các bộ phận thử nghiệm của máy gieo lúa theo hàng
liên kết website
Lượt truy cập
- Kết quả thực hiện nhiệm vụ
Nghiên cứu một số thành phần hóa học hoạt tính kháng khuẩn của cao chiết lá cây Đính (Pongamia Pinnata L) thu hái tại thành phố Đà Nẵng
Đại học Kỹ thuật Y - Dược Đà Nẵng
UBND TP. Đà Nẵng
Cơ sở
TS.BS. Lê Văn Nho
Phạm Thu Hương
Khoa học tự nhiên
01/03/2020
01/07/2021
2021
Đà Nẵng
Đề tài "Nghiên cứu một số thành phần hóa học, hoạt tính kháng khuẩn của cao chiết lá cây Đính (Pongamia pinnata L.) thu hái tại thành phố Đà Nẵng" được thực hiện nhằm xây dựng cơ sở dữ liệu khoa học cho loài cây này, vốn đã được người dân địa phương sử dụng theo kinh nghiệm để nấu nước tắm trị các bệnh về da ở trẻ em. Qua khảo sát, tổng cộng 1672 cây Đính đã được ghi nhận, phân bố tập trung dọc lưu vực sông Cẩm Lệ. Lá cây sau khi sơ chế có các thông số vật lý là độ ẩm 5,882% và độ tro toàn phần 8,209%. Về thành phần hóa học, nghiên cứu định tính cao tổng chiết bằng methanol đã phát hiện 5 nhóm hợp chất chính: alkaloid, saponin, flavonoid, acid hữu cơ và đường khử; đồng thời phân tích GC/MS đã xác định được 21 hợp chất hữu cơ. Quan trọng nhất là hoạt tính kháng khuẩn: khi thử nghiệm trên hai chủng khuẩn là Staphylococcus aureus ATCC 25923 và MRSA, phân đoạn ethyl acetat thể hiện khả năng ức chế mạnh mẽ nhất. Cụ thể, dung dịch C5 của phân đoạn này cho hoạt tính kháng khuẩn tương đương với dung dịch chuẩn Gentamicin sulfat nồng độ 0.106μg/ml (đối với S. aureus) và 0.089μg/ml (đối với MRSA), cung cấp bằng chứng khoa học củng cố cho việc ứng dụng truyền thống của lá cây Đính trong điều trị nhiễm khuẩn ngoài da.
Trung tâm Hỗ trợ khởi nghiệp đổi mới sáng tạo Đà Nẵng
DNG-TP2021
