Các nhiệm vụ khác
- Nội dung phương thức bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quản lý giáo viên của các Trung tâm giáo dục thường xuyên
- Khảo sát nghiên cứu kết quả cải cách hành chính giai đoạn 1995-2000 tại tỉnh Lào Cai và đề nghị một số phương hướng cho giai đoạn mới
- Khảo sát hiệu quả chế phẩm Tricô - LV chịu úng đối với bệnh lúa von (Fusarium moniliforrme) và thối rễ do ngộ độc hữu cơ trên lúa 3 vụ tại Thoại Sơn - An Giang
- Đánh giá tình hình hoạt động và vệ sinh các yếu tố môi trường lao động ở khu vực sản xuất nhỏ tại Hà Nội và Nam Hà
- Áp dụng tiêu chuẩn đánh giá chất lượng chương trình đào tạo của AUN ở các trường đại học ngoài công lập tại thành phố Hồ Chí Minh
- Nghiên cứu gen và enzym SQR, FCC ở vi khuẩn oxy hóa lưu huỳnh theo định hướng ứng dụng trong xử lý môi trường
- Nghiên cứu công nghệ và thiết kế thiết bị sơ chế bảo quản tập trung một số loại rau hoa quả tươi
- Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ ở các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc
- Nghiên cứu hệ thống phương pháp đánh giá trình độ công nghệ một số xí nghệp ngành dệt may tỉnh Phú thọ
- Ứng dụng hệ thống địa lý (GIS) đểquanr lý hạ tầng bưu chính viễn thông trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa
liên kết website
Lượt truy cập
- Kết quả thực hiện nhiệm vụ
12/GCN-TTKNĐMST
Phân lập, tuyển chọn vi khuẩn phân hủy chất phụ gia sodium tripolyphosphate (STPP) và nghiên cứu tạo chế phẩm vi sinh xử lý STPP trong nước thải từ công ty chế biến thủy sản ở tỉnh Sóc Trăng
Đại học Cần Thơ
Bộ Giáo dục và Đào tạo
Tỉnh/ Thành phố
1. TS. Nguyễn Thị Phi Oanh
PGS.TS. Nguyễn Đắc Khoa, ThS. Võ Phát Tài, TS. Nguyễn Thị Kim Huê, ThS. Nguyễn Thị Dơn, Nguyễn Văn Qui, Phạm Công Phú, Trương Vũ Luân
Công nghệ sinh học môi trường
6/2022
11/2025
2025
Sóc Trăng (cũ)
106
Trong chế biến thuỷ sản, đặc biệt là chế biến tôm, chất bảo quản sodium tripolyphosphate (STPP) được sử dụng phổ biến để duy trì độ tươi, màu sắc tự nhiên, kết cấu và giữ nước cho sản phẩm. Với sự phát triển về quy mô chế biến thủy sản hiện nay ở Đồng bằng Sông Cửu Long nói chung và Sóc Trăng nói riêng, lượng STPP được sử dụng và thải ra ngày càng nhiều. Hợp chất vô cơ này nếu không được xử lý hiệu quả sẽ gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng.
Trong nghiên cứu này, 43 dòng vi khuẩn có khả năng hấp thu phosphate được phân lập từ nước thải thu tại 04 công ty chế biến thủy sản ở tỉnh Sóc Trăng, trong đó,12 dòng có khả năng hấp thu phosphate (200 ppm) hiệu quả. Điều kiện tối ưu cho sự hấp thu phosphate khi vi khuẩn được nuôi cấy thông khí trong môi trường có pH = 7 và nhiệt độ từ 35⁰C đến 37⁰C. Ba dòng vi khuẩn POU1.3, POU1.4 và PAN1.12 có khả năng hấp thu phosphate hiệu quả nhất và hoá hướng động theo sodium tripolyphosphate. Kỹ thuật BOX-PCR chứng minh 2 dòng POU1.3 và POU1.4 giống nhau về mặt di truyền. Dựa vào phân tích phân tử và chỉ tiêu sinh hoá, 2 dòng vi khuẩn tuyển chọn PAN1.12 và POU1.4 được định danh là Comamonas aquatica sp. PAN1.12 và Acinetobacter kanungosis POU1.4.
Kết quả tuyển chọn chất mang để tồn trữ vi khuẩn cho thấy bột talc có bổ sung CMC 1%, CaCO3 1,5% (w/v) với mật số vi khuẩn chủng vào ban đầu là 100x106 CFU/g là chất mang phù hợp để tồn trữ vi khuẩn Comamonas aquatica sp. PAN1.12 trong túi 5 g hoặc 50 g, đạt mật số ≥106 CFU/g chế phẩm trong 6 tháng tồn trữ. Hoạt tính hấp thu phosphate của vi khuẩn khi thử nghiệm in vitro, thử nghiệm với nước thải chế biến thuỷ sản ở quy mô 0,5 lít, 5 lít trong điều kiện phòng thí nghiệm vẫn được duy trì.
Sử dụng vi khuẩn Comamonas aquatica sp. PAN1.12 sau tồn trữ trong chế phẩm
để thử nghiệm thực tế tại hệ thống xử lý nước thải chế biến thuỷ sản cho thấy lượng phosphate và phosphorus tổng trong nước thải đầu ra giảm, đạt mức xả thải loại B theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải chế biến thủy sản (QCVN 11-MT:2015/BTNMT)
Trung tâm Khởi nghiệp và Đổi mới sáng tạo thành phố Cần Thơ
CTO-2025-12
