Các nhiệm vụ khác
- Nghiên cứu xác định suất tiêu thụ điện của các xí nghiệp tuyển than
- Đánh giá hiệu quả điều trị của bài thuốc Sâm Thảo Can khương thang trên bệnh nhân mắc Covid-19 thể bệnh nhẹ và trung bình bằng thử dược lý in silico và thử nghiệm lâm sàng
- Nghiên cứu phát triển tường lửa ứng dụng web đảm bảo an toàn thông tin cho các cổng/ trang thông tin điện tử của các cơ quan Nhà nước tỉnh Bình Dương
- Nghiên cứu ứng dụng công nghệ thông tin trong đào tạo từ xa qua mạng internet tại tỉnh Quảng Ninh
- Quản lý nhân lực khoa học ở Học viện Chính trị-Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh: thực trạng và giải pháp
- Nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn xây dựng phương pháp và quy trình tính tải lượng ô nhiễm nguồn nước sông Áp dụng thử nghiệm cho vùng Lục Đầu Giang (đối với đoạn sông Cầu đoạn từ Đáp Cầu đến Phả Lại và sông Thương đoạn từ Phủ Lạng Thương đến Phả Lại)
- Nghiên cứu quy trình tổng hợp nguyên liệu và bào chế dạng thuốc viên flutamid điều trị ung thư tiền liệt tuyến
- Mô hình tổ chức không gian kiến trúc cảnh quan nông thôn mới kế thừa giá trị văn hóa truyền thống các vùng miền
- Nghiên cứu các biện pháp bảo đảm nhiệm vụ vận tải biển đặc biệt pha sông biển cho kế hoạch 1985
- Khảo sát phân loại và xây dựng chương trình bồi dưỡng kiến thức hành chính và quản lý nhà nước theo chức danh giám đốc sở lãnh đạo cấp vụ chủ tịch UBND cấp huyện
liên kết website
Lượt truy cập
- Kết quả thực hiện nhiệm vụ
12/GCN-TTKNĐMST
Phân lập, tuyển chọn vi khuẩn phân hủy chất phụ gia sodium tripolyphosphate (STPP) và nghiên cứu tạo chế phẩm vi sinh xử lý STPP trong nước thải từ công ty chế biến thủy sản ở tỉnh Sóc Trăng
Đại học Cần Thơ
Bộ Giáo dục và Đào tạo
Tỉnh/ Thành phố
1. TS. Nguyễn Thị Phi Oanh
PGS.TS. Nguyễn Đắc Khoa, ThS. Võ Phát Tài, TS. Nguyễn Thị Kim Huê, ThS. Nguyễn Thị Dơn, Nguyễn Văn Qui, Phạm Công Phú, Trương Vũ Luân
208 - Công nghệ sinh học môi trường
6/2022
11/2025
2025
Sóc Trăng (cũ)
106
Trong chế biến thuỷ sản, đặc biệt là chế biến tôm, chất bảo quản sodium tripolyphosphate (STPP) được sử dụng phổ biến để duy trì độ tươi, màu sắc tự nhiên, kết cấu và giữ nước cho sản phẩm. Với sự phát triển về quy mô chế biến thủy sản hiện nay ở Đồng bằng Sông Cửu Long nói chung và Sóc Trăng nói riêng, lượng STPP được sử dụng và thải ra ngày càng nhiều. Hợp chất vô cơ này nếu không được xử lý hiệu quả sẽ gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng.
Trong nghiên cứu này, 43 dòng vi khuẩn có khả năng hấp thu phosphate được phân lập từ nước thải thu tại 04 công ty chế biến thủy sản ở tỉnh Sóc Trăng, trong đó,12 dòng có khả năng hấp thu phosphate (200 ppm) hiệu quả. Điều kiện tối ưu cho sự hấp thu phosphate khi vi khuẩn được nuôi cấy thông khí trong môi trường có pH = 7 và nhiệt độ từ 35⁰C đến 37⁰C. Ba dòng vi khuẩn POU1.3, POU1.4 và PAN1.12 có khả năng hấp thu phosphate hiệu quả nhất và hoá hướng động theo sodium tripolyphosphate. Kỹ thuật BOX-PCR chứng minh 2 dòng POU1.3 và POU1.4 giống nhau về mặt di truyền. Dựa vào phân tích phân tử và chỉ tiêu sinh hoá, 2 dòng vi khuẩn tuyển chọn PAN1.12 và POU1.4 được định danh là Comamonas aquatica sp. PAN1.12 và Acinetobacter kanungosis POU1.4.
Kết quả tuyển chọn chất mang để tồn trữ vi khuẩn cho thấy bột talc có bổ sung CMC 1%, CaCO3 1,5% (w/v) với mật số vi khuẩn chủng vào ban đầu là 100x106 CFU/g là chất mang phù hợp để tồn trữ vi khuẩn Comamonas aquatica sp. PAN1.12 trong túi 5 g hoặc 50 g, đạt mật số ≥106 CFU/g chế phẩm trong 6 tháng tồn trữ. Hoạt tính hấp thu phosphate của vi khuẩn khi thử nghiệm in vitro, thử nghiệm với nước thải chế biến thuỷ sản ở quy mô 0,5 lít, 5 lít trong điều kiện phòng thí nghiệm vẫn được duy trì.
Sử dụng vi khuẩn Comamonas aquatica sp. PAN1.12 sau tồn trữ trong chế phẩm
để thử nghiệm thực tế tại hệ thống xử lý nước thải chế biến thuỷ sản cho thấy lượng phosphate và phosphorus tổng trong nước thải đầu ra giảm, đạt mức xả thải loại B theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải chế biến thủy sản (QCVN 11-MT:2015/BTNMT)
Trung tâm Khởi nghiệp và Đổi mới sáng tạo thành phố Cần Thơ
CTO-2025-12
