Các nhiệm vụ khác
- Nghiên cứu động học pha tinh thể và các hiệu ứng điện - từ của một số vật liệu cấu trúc perovskite nền mangan
- Lập bản đồ bộ gen tôm sú (P monodon)
- Một số phương pháp giải một lớp bất đẳng thức biến phân
- CACS-LMIMO: Giải giải pháp mã sửa lỗi tiệm cận dung lượng kênh cho hệ thống MIMO lớn
- Nâng cao chất lượng giảng dạy môn Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam ở Học viện Chính trị khu vực III hiện nay
- Lựa chọn một số giống lúa mới chất lượng có đặc tính thơm chống chịu bệnh đạo ôn bạc lá và rầy nâu để bổ sung và cơ cấu mùa vụ của tỉnh Hải Dương
- Nghiên cứu khảo sát ảnh hưởng của từ trường ngoài lên phản ứng điện hóa ứng dụng làm xúc tác điện hóa cho phản ứng khử nitrat
- Đánh giá thực trạng canh tác cam sành tại tỉnh Vĩnh Long
- Nghiên cứu ứng dụng và triển khai một số mô hình không phát thải hướng tới ngăn ngừa ô nhiễm cho cụm dân cư nông thôn vùng đồng bằng sông Cửu Long
- Tổng hợp và nghiên cứu tính chất hấp thụ tia tử ngoại độ bền thời tiết của lớp phủ bảo vệ chứa vật liệu nanocompozit trên cơ sở CeO2
liên kết website
Lượt truy cập
- Ứng dụng kết quả thực hiện nhiệm vụ
DALC
20/KQNC
Chuyển giao công nghệ nuôi trồng nấm sò nấm rơm nấm mỡ tại 03 huyện (Than Uyên Phong Thổ Sìn Hồ) tỉnh Lai Châu
Trung tâm Kiểm định và Phát triển khoa học công nghệtỉnh Lai Châu)
UBND Tỉnh Lai Châu
Tỉnh/ Thành phố
Dự án
CN. Trần Văn Thành
1. Ngô Thanh Hùng - Thành viên 2. Trần Văn Thành - Chủ nhiệm 3. Chu Thị Thu Thanh - Thành viên 4. Trần Thị Diệu Thúy - Thành viên 5. Dương Thị Đường - Thành viên
Trồng trọt
01/2013
11/2016
11/06/2016
20/KQNC
23/08/2017
Trung tâm Thông tin và Thống kê khoa học và công nghệ
Tập huấn chuyển giao công nghệ nuôi trồng nấm sò, nấm rơm, nấm mỡ cho 180 lượt người tham gia của 03 huyện (Phong Thổ, Sìn Hồ và Than Uyên) với người tham là là 180 người;
Tổ chức hoạt động sản xuất giống nấm: 1.500 kg giống nấm sò cấp III; 225 kg giống nấm rơm cấp III; 225 kg giống nấm mỡ cấp III;
Xây dựng mô hình nuôi trồng 3 loại nấm: 60 tấn nguyên liệu rơm khô (Nấm sò 30 tấn, nấm rơm 15 tấn, nấm mỡ 15 tấn);
Tổng sản phẩm nấm tươi thương phẩm thu được là 22,87 tấn (nấm sò 17,7 tấn; nấm mỡ 4,350 tấn và nấm rơm 2,025 tấn).
Dự án bước đầu đem lại cho người dân một nghề mới (nghề trồng nấm) cho thu nhập ổn định, phù hợp với điều kiện thực tế tại địa phương. Đồng thời giải quyết được vấn đề ô nhiễm môi trường một cách rất hiệu quả (thời gian chưa có dự án thì phần lớn rơm rạ đều đem đốt tạo rất nhiều khói gây ô nhiễm không khí; thả trôi trên các dòng nước chảy gây tắc nghẽn dòng chảy đặc biệt là trong vụ mùa rơm rạ làm tắc dòng chảy gây lũ mỗi khi trời mưa to).
Nhận thức của người dân: Dự án cũng có tác động tích cực tới nhận thức của người dân: Biết được một số loại nấm ăn, cách nuôi trồng, có thêm thông tin về nấm để tránh hái phải nấm đốc ngoài tự nhiên.
Giải quyết vấn đề lao động địa phương: Đây thực sự là một bài toán khó cho các cấp các ngành. Dự án chỉ là một vấn đề cụ thể nên cơ quan chủ trì, chủ nhiệm dự án xin báo cáo vấn đề giải quyết lao động trong thời gian triển khai dự án như sau: (Nuôi trồng nấm sò: 24 công/tấn nguyên liệu x 30 tấn nguyên liệu = 720 công lao động; nuôi trồng nấm rơm: 10 công/tấn nguyên liệu x 15 tấn nguyên liệu = 150 công lao động; nuôi trồng nấm mỡ: 30 công/tấn nguyên liệu x 15 tấn nguyên liệu = 450 công lao động). Tổng số công lao động mà dự án đã tạo ra trong thời gian triển khai là 1.320 công lao động.
Mức thu nhập trước và sau khi thực hiện dự án: Chỉ tính riêng công lao động dự án tạo ra đã thấy được mức thu nhập của người dân khi tham gia mô hình của dự án có thu nhập tăng thêm như sau: Trước khi chưa có dự án: Không có thu nhập tăng thêm do không tạo được việc làm; Trong thời gian triển khai dự án: Đã tạo được việc làm với số lượng 1.320 công lao động x 100.000 đồng/công lao động = 132.000.000 đồng.
nấm sò; nấm rơm; nấm mỡ
Ứng dụng
Dự án KH&CN
Tập huấn chuyển giao công nghệ nuôi trồng nấm sò, nấm rơm, nấm mỡ cho 180 lượt người tham gia của 03 huyện (Phong Thổ, Sìn Hồ và Than Uyên) với người tham là là 180 người.
Dự án bước đầu đem lại cho người dân một nghề mới (nghề trồng nấm) cho thu nhập ổn định, phù hợp với điều kiện thực tế tại địa phương. Đồng thời giải quyết được vấn đề ô nhiễm môi trường một cách rất hiệu quả (thời gian chưa có dự án thì phần lớn rơm rạ đều đem đốt tạo rất nhiều khói gây ô nhiễm không khí; thả trôi trên các dòng nước chảy gây tắc nghẽn dòng chảy đặc biệt là trong vụ mùa rơm rạ làm tắc dòng chảy gây lũ mỗi khi trời mưa to).
Nhận thức của người dân: Dự án cũng có tác động tích cực tới nhận thức của người dân: Biết được một số loại nấm ăn, cách nuôi trồng, có thêm thông tin về nấm để tránh hái phải nấm đốc ngoài tự nhiên.
Giải quyết vấn đề lao động địa phương: Đây thực sự là một bài toán khó cho các cấp các ngành. Dự án chỉ là một vấn đề cụ thể nên cơ quan chủ trì, chủ nhiệm dự án xin báo cáo vấn đề giải quyết lao động trong thời gian triển khai dự án như sau: (Nuôi trồng nấm sò: 24 công/tấn nguyên liệu x 30 tấn nguyên liệu = 720 công lao động; nuôi trồng nấm rơm: 10 công/tấn nguyên liệu x 15 tấn nguyên liệu = 150 công lao động; nuôi trồng nấm mỡ: 30 công/tấn nguyên liệu x 15 tấn nguyên liệu = 450 công lao động). Tổng số công lao động mà dự án đã tạo ra trong thời gian triển khai là 1.320 công lao động.
Mức thu nhập trước và sau khi thực hiện dự án: Chỉ tính riêng công lao động dự án tạo ra đã thấy được mức thu nhập của người dân khi tham gia mô hình của dự án có thu nhập tăng thêm như sau: Trước khi chưa có dự án: Không có thu nhập tăng thêm do không tạo được việc làm; Trong thời gian triển khai dự án: Đã tạo được việc làm với số lượng 1.320 công lao động x 100.000 đồng/công lao động = 132.000.000 đồng.
