Các nhiệm vụ khác
liên kết website
Lượt truy cập
 Lượt truy cập :  34,553,565
  • Ứng dụng kết quả thực hiện nhiệm vụ

ĐTĐL.2012-G/37

2015-02-684

Đánh giá khả năng ứng dụng của chế phẩm vi sinh khuẩn - 18 phòng trừ tuyến trùng hại cây trồng tại Việt Nam

Viện Bảo vệ thực vật

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

Quốc gia

PGS.TS. Phạm Thị Vượng

ThS. Ngô Văn Dũng, ThS. Đặng Thị Lan Anh, ThS. Phạm Văn Sơn, ThS. Hà Thị Kim Thoa, KS. Vũ Thị Hiền, KS. Phạm Minh Thắng, ThS. Trần Văn Huy, KS. Phùng Quang Tùng

Bảo vệ thực vật

08/2012

12/2014

12/09/2015

2015-02-684

08/10/2015

Cục thông tin KH&CN Quốc gia

Đã xác định được 10 loài tuyến trùng hại cà rốt, 19 loài hại cà phê và 13 loài hại hồ tiêu ở các vùng nghiên cứu. Các loài có có mức độ phổ biến trong trên 3 loại cây trồng thuộc 2 nhóm đó là nhóm tuyến trùng gây nốt sưng Meloidogyne spp. và nhóm truyến trùng gây vết thương Pratylenchus spp.

Chế phẩm K-18 có hiệu quả cao trong phòng trừ tuyến trùng gây nốt sưng Meloidogyne sp. và tuyến trùng gây vết thương Pratylenchus sp. ở tất cả các pha, pha ấu trùng có hiệu quả cao nhất, đạt trên 96 % (sau 7 ngày xử lý).

Liều lượng sử dụng K-18 càng cao, hiệu quả phòng trừ càng cao. Tuy nhiên liều lượng dùng 120 lít/ha trước gieo (cà rốt) 2-3 lần/năm (cà phê và hồ tiêu), tỷ lệ pha 1/300 (7,5 lít/ha, tưới sau gieo trên cà rốt) cho hiệu quả cao nhất cả về hiệu quả kỹ thuật, kinh tế, xã hội và môi trường.

11564

Cà rốt: K-18, sử dụng 120 lít/ha/TKG, sau gieo tưới 3 lần (5,10,15 NSG), thu lãi cao hơn so với TQND tới 75,7 triệu/ha/vụ (tại Lâm Đồng) và 57,4 triệu/ha/vụ (tại Hải Dương)

Cà phê tái canh: K-18, lượng sử dụng 120 Lít/ha (2 hoặc 3 lần/năm) đã giảm chi phí đầu tư so với TQND tới 36 triệu/ha (năm 2014) và 47,9 triệu/ha (tính đến 6/2015). Tái canh thành công.

Cà phê kinh doanh: Mô hình sử dụng K-18 trên cà phê kinh doanh thu lãi 26 triệu/ha cà phê chè (K-18 lượng 120 lít/ha, 2 lần/năm) và lãi 6,0 triệu/ha cà phê vối (K-18 lượng 120 lít/ha, 3 lần/năm).

Hồ tiêu thời kỳ KTCB: Mô hình sử dụng K-18 trên hồ tiêu thời kỳ KTCB có tổng đầu tư cao hơn TQND (do giá thành của chế phẩm cao hơn thuốc hóa học). Tuy nhiên vườn tiêu xanh, tỷ lệ cây bị vàng lá giảm 16,3 %, chắc chắn mô hình sẽ có năng suất cao trong các năm sau khi tiêu vào giai đoạn có thu.

Hồ tiêu giai đoạn kinh doanh: K-18, lượng sử dụng 120 lít/ha (2 lần/năm) thu lãi cao hơn TQND tới 116,1 triệu/ha.

Đã xác định được 4 chủng vi sinh vật có trong K-18 là: Sacc-haromyces sp1., Sacc-haromyces sp2., Bacillus sp và Streptomyces saraceticus. Xác định được môi trường phù hợp nhân các chủng VSV. Đã sản xuất được 2250 lít chế phẩm, trong đó 1400 lít lên men từ K-18.T gốc và tự sản xuất được 850 lít (MXA-7) phục vụ mô hình. Sản phẩm sản xuất từ giống gốc khô (K-18.T) và sản phẩm tự sản xuất (ký hiệu là MXA-7) có hiệu lực phòng trừ tuyến trùng cao tương đương sản phẩm gốc.

Đã có 8 lượt người sang học tập tại Đài Loan và có 2 cán bộ Đài Loan sang làm việc tại Việt Nam. Các cán bộ của Việt Nam đã có khả năng nhân và sử dụng K-18 phòng trừ tuyến trùng gây hại cây trồng đạt hiệu quả tại Việt Nam. 

Đánh giá;Khả năng ứng dụng;Chế phẩm;Vi sinh khuẩn-18;Phòng trừ tuyến trùng;Cây trồng

Ứng dụng

Đề tài KH&CN

Khoa học nông nghiệp,

Xây dựng quy trình sử dụng chế phẩm vi sinh K-18 phòng trừ tuyến trùng hại cà rốt, cà phê và hồ tiêu

Số lượng công bố trong nước: 1

Số lượng công bố quốc tế: 0

Không

Tham gia đào tạo 01 Tiến sỹ.