Các nhiệm vụ khác
- Nghiên cứu động học pha tinh thể và các hiệu ứng điện - từ của một số vật liệu cấu trúc perovskite nền mangan
- Lập bản đồ bộ gen tôm sú (P monodon)
- Một số phương pháp giải một lớp bất đẳng thức biến phân
- CACS-LMIMO: Giải giải pháp mã sửa lỗi tiệm cận dung lượng kênh cho hệ thống MIMO lớn
- Nâng cao chất lượng giảng dạy môn Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam ở Học viện Chính trị khu vực III hiện nay
- Lựa chọn một số giống lúa mới chất lượng có đặc tính thơm chống chịu bệnh đạo ôn bạc lá và rầy nâu để bổ sung và cơ cấu mùa vụ của tỉnh Hải Dương
- Nghiên cứu khảo sát ảnh hưởng của từ trường ngoài lên phản ứng điện hóa ứng dụng làm xúc tác điện hóa cho phản ứng khử nitrat
- Đánh giá thực trạng canh tác cam sành tại tỉnh Vĩnh Long
- Nghiên cứu ứng dụng và triển khai một số mô hình không phát thải hướng tới ngăn ngừa ô nhiễm cho cụm dân cư nông thôn vùng đồng bằng sông Cửu Long
- Tổng hợp và nghiên cứu tính chất hấp thụ tia tử ngoại độ bền thời tiết của lớp phủ bảo vệ chứa vật liệu nanocompozit trên cơ sở CeO2
liên kết website
Lượt truy cập
- Ứng dụng kết quả thực hiện nhiệm vụ
DALC
19/KQNC
Dự án Chuyển giao kỹ thuật chế biến thức ăn cho trâu bò từ phụ phẩm nông nghiệp bằng men vi sinh tại huyện Phong Thổ và Sìn Hồ
Hội Nông dân tỉnh Lai Châu
UBND Tỉnh Lai Châu
Tỉnh/ Thành phố
Dự án
Ths. Lò Văn Sơn
1. Ths. Lò Văn Sơn - Chủ nhiệm 4. Cn. Nguyễn Thành Trung - Thành viên 2. Ks. Vũ Đức Long - Thư ký 5. Ks. Nguyễn Thị Yến - Thành viên 3. Ks. Vũ Thị Liên - Thành viên 6. Ks. Thùng Xuân Thành - Thành viên
Khoa học nông nghiệp
24/03/2017
19/KQNC
18/08/2017
Trung tâm Thông tin và Thống kê KHCN
Dự án đã chuyển giao tiến bộ kỹ thuật chế biến phụ phẩm nông nghiệp làm thức ăn cho gia súc cho 300 hộ chăn nuôi tại 06 xã của huyện Phong Thổ, Sìn Hồ. 80 mô hình đã thực hiện ủ thành công 187.540 kg rơm tươi và thân lá cây ngô sau thu hoạch, đảm bảo chất lượng làm thức ăn cho trâu bò, thời gian bảo quản được trên 3 tháng, có giá trị dinh dưỡng cao hơn so với rơm khô và rơm tươi sau thu hoạch. Giúp các hộ dân chủ động được nguồn thức ăn thô xanh cho trâu bò, đặc biệt là trong mùa đông giá rét. Tận dụng được nguồn phụ phẩm dồi dào để phát triển và tăng năng suất chăn nuôi, giảm thiểu ô nhiễm môi trường
Các mô hình triển khai thành công đã dần làm thay đổi tập quán chăn nuôi đại gia súc chỉ dựa vào chăn thả tự nhiên, thêm phương thức hiệu quả trong bảo quản dự trữ thức ăn đặc biệt trong vụ đông là thời điểm khan hiếm thức ăn thô xanh nhất trong năm. Việc chế biến, dự trữ rơm tươi, thân lá cây ngô đã tạo được nguồn thức ăn có giá trị dinh dưỡng, tận dụng lượng rơm, thân lá cây ngô thường bị bỏ phí làm thức ăn cho trâu, bò. Dự án khoa học là cơ sở, tạo điều kiện cho các hộ mở rộng quy mô, nâng cao hiệu quả chăn nuôi, giảm tối đa việc đại gia súc (trâu, bò...) bị chết vì đói, lạnh dẫn đến suy nhược cơ thể, đây là tình trạng vẫn thường xuyên xảy ra vào những tháng mùa đông đối với đàn trâu bò trên địa bàn toàn tỉnh.
Ứng dụng kết quả dự án làm giảm thiểu ô nhiễm môi trường do các phụ phẩm nông nghiệp không được xử lý mà thường để trên nương ngoài ruộng sau đó đốt gây khói bụi ô nhiễm môi trường. Hạn chế dịch bệnh phát sinh do trâu bò thiếu thức ăn trong mùa đông dẫn đến chết đói, chết rét và các bệnh dịch khác kế phát. Việc nuôi nhốt có kiểm soát: chất thải gia súc được thu rọn xử lý ủ là biện pháp hữu hiệu để bảo vệ môi trường.
xoài Ba Màu; đạt tiêu chuẩn VietGAP; chuỗi tiêu thụ sản phẩm;
Ứng dụng
Dự án sản xuất thử nghiệm
Dự án đã chuyển giao tiến bộ kỹ thuật chế biến phụ phẩm nông nghiệp làm thức ăn cho gia súc, cho 300 hộ chăn nuôi tại 06 xã: Hoang Thèn, Bản Lang, Sin Suối Hồ, huyện Phong Thổ, Xà Dề Phìn, Nậm Tăm, Pa Khóa, huyện Sìn Hồ.
Dự án đã chuyển giao 80 mô hình đã thực hiện ủ thành công 187.540 kg rơm tươi và thân lá cây ngô sau thu hoạch, đảm bảo chất lượng làm thức ăn cho trâu bò, thời gian bảo quản được trên 3 tháng, có giá trị dinh dưỡng cao hơn so với rơm khô và rơm tươi sau thu hoạch. Giúp các hộ dân chủ động được nguồn thức ăn thô xanh cho trâu bò, đặc biệt là trong mùa đông giá rét. Tận dụng được nguồn phụ phẩm dồi dào để phát triển và tăng năng suất chăn nuôi, giảm thiểu ô nhiễm môi trường.
Hội Nông dân tỉnh tiếp tục chủ động là đơn vị đầu mối để chuyển giao quy trình kỹ thuật, cung ứng nguồn Chế phẩm sinh học Bio-TMT cho các hộ đã tham gia thực hiện mô hình và các hộ chăn nuôi khác trong toàn tỉnh có nhu cầu chế biến/dự trữ phụ phẩm nông nghiệp làm thức ăn cho trâu bò trong các năm tiếp theo.
Tranh thủ các nguồn đầu tư hỗ trợ để tiếp tục nhân rộng các mô hình tại các xã khác trên địa bàn tỉnh.
Thông qua Trung tâm Hỗ trợ nông dân, Hội Nông dân tỉnh, Trung tâm ứng dụng khoa học công nghệ - Sở Khoa học & Công nghệ, Trung tâm Khuyến nông, Sở Nông nghiệp và PTNT, các kênh thông tin ... để tuyên truyền và nhân rộng mô hình.
