Các nhiệm vụ khác
- Phát triển phương pháp tính toán phân bố áp suất thủy tĩnh và thủy động trong màng dầu ở chế độ bôi trơn hỗn hợp: Ví dụ ứng dụng tính toán cho bơm bánh răng ăn khớp trong
- Nghiên cứu quy trình tách chiết dầu sinh học giàu axit béo omega-3 và omega-6 (EPA DHA DPA) từ sinh khối vi tảo biển dị dưỡng
- Hỗ trợ xây dựng thí điểm mô hình tổng thể cho hoạt động cải tiến năng suất và quản lý chất lượng đối với các doanh nghiệp ngành Dệt may Nhựa Cơ khí và Hóa chất
- CACS-LMIMO: Giải giải pháp mã sửa lỗi tiệm cận dung lượng kênh cho hệ thống MIMO lớn
- Xây dựng quy trình sản xuất sữa gạo
- Hoàn thiện quy trình công nghệ sản xuất hạt giống cỏ họ đậu Stylo Stylosanthes guianensis CIAT 184 và Stylosanthes guianensis Plus) phục vụ chăn nuôi
- Ứng dụng xấp xỉ phiếm hàm năng lượng phụ thuộc vào mật độ để nghiên cứu cấu trúc và phản ứng hạt nhân
- Khảo sát một số yếu tố liên quan đến tình hình lao phổi đa kháng thuốc tại tỉnh An Giang năm 2018
- Nghiên cứu phát triển các nguồn gen lúa thích ứng với biến đổi khí hậu
- Nghiên cứu xây dựng và sử dụng các bản đồ giáo khoa của thành phố Hà Nội trong dạy học địa lý địa phương ở trường phổ thông theo định hướng phát triển năng lực người học
liên kết website
Lượt truy cập
- Ứng dụng kết quả thực hiện nhiệm vụ
502.01-2018.309
2022-02-0793/NS-KQNC
Nghiên cứu nhận thức và hành vi của nông dân miền núi phía Bắc đối với biến đổi khí hậu
Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Quốc gia
TS. Trần Thị Thu Hương
PGS. TS. Tô Thế Nguyên, TS. Nguyễn Thị Lan Hương, TS. Nguyễn Hồng Chỉnh
Khí hậu học
01/02/2019
01/02/2021
31/05/2022
2022-02-0793/NS-KQNC
28/07/2022
Cục thông tin KH&CN Quốc gia
Trong những năm gần đây các nhà nghiên cứu quan tâm nhiều đến thích ứng hay ứng xử của người dân đối với các hiện tượng TTCĐ hay BĐKH. Để ứng phó với các hiện tượng TTCĐ hay BĐKH, nhiều nơi trên thế giới đang thực hiện cùng một lúc 2 chiến lược chính: giảm thiểu và thích ứng. Các thách thức đối với giảm thiểu và thích ứng đều rất lớn. Tuy nhiên, những thách thức này có thể được giải quyết thông qua những chính sách chủ động và phù hợp. Mặt khác, thích ứng với TTCĐ còn liên quan đến khả năng của hệ thống sinh thái, xã hội và kinh tế. Thích ứng với TTCĐ còn có nghĩa là tất cả những phản ứng đối với nó nhằm làm giảm tính dễ bị tổn thương. Nông dân có thể thực hiện một số biện pháp thích ứng hữu ích và hiệu quả, chẳng hạn như thay đổi lịch trình gieo trồng, chuyển sang cây trồng chịu hạn, thay đổi phương thức canh tác do nhiễm mặn ở các vùng ven biển. Kết quả của chúng tôi cũng cho thấy rằng những nông hộ có trình độ học vấn cao hơn có xu hướng áp dụng các biện pháp thích nghi và giảm nhẹ cao hơn. Tuy nhiên, so với những người được hỏi ở độ tuổi tiểu học, những nông hộ tốt nghiệp trung học cơ sở chỉ đánh giá một loại biện pháp giảm thiểu được gọi là bảo vệ nguồn nước của họ là tốt hơn đáng kể. Tương tự, những người dân tốt nghiệp trung học chỉ đánh giá việc áp dụng công nghệ mới của họ tốt hơn đáng kể so với những người ở cấp tiểu học. Thu nhập từ nông nghiệp có tác động tích cực và đáng kể đến khả năng đầu tư vào sản xuất nông nghiệp của họ để đối phó với BĐKH. Có sự gia tăng tỷ lệ áp dụng các chiến lược thích ứng và giảm thiểu lần lượt là 0,0572, 0,0081, 0,0226, 0,1049 và 0,0803. Khả năng tiếp cận tín dụng vi mô cũng tác động đến mức độ áp dụng các biện pháp thích ứng và giảm thiểu của họ. Tiếp cận các nguồn tài chính tốt cho phép các nông hộ chuyển hướng trồng trọt và chăn nuôi.
Nghiên cứu đóng góp cho nông hộ hoặc các nhà hoạch định chính sách. Nghiên cứu này cũng cung cấp hiểu biết về phản ứng của nông hộ với các biến đổi khí hậu, nhận thức về rủi ro và thái độ thích ứng với rủi ro khí hậu. Nghiên cứu nhằm xác định niềm tin, thái độ và các yếu tố BĐKH và kinh tế xã hội khác đối với khả năng thích ứng với BĐKH của nông dân Việt Nam.
Biến đổi khí hậu; Nông dân; Nông nghiệp; Môi trường; Niềm tin; Nhận thức; Rủi ro
Ứng dụng
Đề tài KH&CN
Khoa học xã hội,
Được ứng dụng giải quyết vấn đề thực tế,
Số lượng công bố trong nước: 1
Số lượng công bố quốc tế: 3
Không
Không
