Lọc theo danh mục
  • Năm xuất bản
    Xem thêm
  • Lĩnh vực
liên kết website
Lượt truy cập
 Lượt truy cập :  60,822,198
  • Công bố khoa học và công nghệ Việt Nam

76

3020303 - Nhi khoa - Hô hấp

BB

Trần Thị Tuyết Phương, Phan Thanh Tài, Phạm Thị Tuyết Nhi, Hà Thị Hồng Ân, Nguyễn Thị Ngọc Nga

Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và yếu tố liên quan ở trẻ sơ sinh suy hô hấp do bệnh màng trong tại Bệnh viện Nhi đồng Thành phố Cần Thơ năm 2024

Clinical and laboratory c-haracteristics and associated factors of respiratory distress due to hyaline membrane disease at Can Tho Children’s Hospital in 2024

Y học Cộng đồng

2026

2

1-4

2354-0613

Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, mức độ trên X quang và các yếu tố liên quan ở trẻ sơ sinh suy hô hấp do bệnh màng trong điều trị tại Bệnh viện Nhi Đồng thành phố Cần Thơ năm 2024. Phương pháp: Nghiên cứu mô tả hồi cứu trên 120 trẻ sơ sinh chẩn đoán xác định suy hô hấp do bệnh màng trong. Tiêu chuẩn nhận vào gồm biểu hiện lâm sàng điển hình, khí máu động mạch bất thường và X quang phổi phù hợp bệnh màng trong; loại trừ dị tật bẩm sinh nặng và các nguyên nhân khác của suy hô hấp. Dữ liệu trích lục từ hồ sơ bệnh án, phân tích mô tả; mức độ nặng đánh giá bằng thang Silverman-Anderson và phân độ X quang. Kết quả: Con so chiếm 57,5%; sinh mổ 73,3%. Khi nhập viện, 90% thở rên, 87,5% tím tái và 97,5% rút lõm lồng ngực; SpO2 < 85% ở 90% bệnh nhi. Hình ảnh X quang cho thấy độ II chiếm 87,5% và độ I chiếm 12,5%. Khí máu ghi nhận PaO2 40-59 mmHg ở 87,5% và HCO3- 12-17 mEq/L ở 87,5%. Đa số trẻ (87,5%) đã được đặt nội khí quản và bóp bóng khi nhập viện; tất cả đều hồi phục xuất viện (100%), không có chuyển tuyến hay tử vong. Kết luận: Bệnh màng trong chủ yếu gặp ở trẻ sinh non/nhẹ cân và con so, biểu hiện giảm oxy máu nặng với X quang độ II; tuân thủ phác đồ hiện hành cho kết quả ngắn hạn rất tốt. Cần nhấn mạnh phát hiện sớm và áp dụng gói chăm sóc chuẩn hóa trong quản lý bệnh màng trong.  

To describe clinical and laboratory c-haracteristics, radiographic severity, and associated factors among neonates with respiratory distress due to hyaline membrane disease managed at Can Tho Children’s Hospital in 2024. Methods: A retrospective descriptive study of 120 neonates with confirmed neonatal respiratory distress due to hyaline membrane disease. Inclusion required typical clinical presentation, abnormal arterial blood gas, and chest radiography consistent with hyaline membrane disease; major congenital anomalies and other causes of respiratory failure were excluded. Data were abstracted f-rom medical records and analyzed with descriptive statistics. Severity was graded using the Silverman-Anderson score and chest X-ray stages. Results: Firstborn infants accounted for 57.5% and cesarean delivery for 73.3%. On admission, 90% had grunting, 87.5% cyanosis, and 97.5% chest retractions; SpO2 < 85% occurred in 90% neonates. Silverman components were abnormal in all infants. Chest radiography showed grade II hyaline membrane disease in 87.5% and grade I in 12.5%. Arterial blood gases revealed PaO240-59 mmHg in 87.5% and HCO3- 12-17 mEq/L in 87.5%. Most infants (87.5%) were intubated with bag-mask ventilation at admission; all were disc-harged alive with recovery (100%), with no transfers or deaths recorded. Conclusions: At this center, hyaline membrane disease predominantly affected firstborn and preterm/low-birth-weight infants, presented with severe hypoxemia and radiographic grade II disease, and had excellent short-term outcomes under current management pathways. These findings underscore the importance of early recognition and standardized care bundles for hyaline membrane disease.

TTKHCNQG, CVv 417

  • [1] Vũ Thị Chín; Nguyễn Thị Quỳnh Nga (2023), Nguyên nhân và kết quả điều trị suy hô hấp ở trẻ sơ sinh tại Bệnh viện Sản nhi Nghệ An,Tạp chí Y học Việt Nam (Tổng hội Y học Việt Nam)
  • [2] Ngô Minh Xuân (2020), Đánh giá hiệu quả kỹ thuật bơm surfactant ít xâm lấn ở trẻ sơ sinh,Tạp chí Y Dược học - Trường Đại học Y Dược Huế