Lọc theo danh mục
  • Năm xuất bản
    Xem thêm
  • Lĩnh vực
liên kết website
Lượt truy cập
 Lượt truy cập :  60,822,198
  • Công bố khoa học và công nghệ Việt Nam

76

BB

Huỳnh Thanh Long, Nguyễn Tạ Quyết, Lê Nguyên Khôi, Lê Đức Anh Tuấn

Đánh giá đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và nội soi đường mật qua đường hầm Kehr ở bệnh nhân còn sỏi sau phẫu thuật lấy sỏi đường mật

Evaluation of clinical and paraclinical c-haracteristics in cases of residual bile duct stones after biliary stone surgery

Y học Cộng đồng

2026

2

16-21

2354-0613

Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và hình ảnh nội soi đường mật qua đường hầm Kehr ở bệnh nhân còn sỏi sau phẫu thuật lấy sỏi đường mật tại Bệnh viện Bình Dân. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả hồi cứu trên 207 bệnh nhân được nội soi đường mật qua ống Kehr tại Khoa Gan Mật, Bệnh viện Bình Dân từ 01/2022 đến 04/2025. Thu thập tuổi, giới, bệnh nền, phân loại ASA; kết quả siêu âm và X-quang đường mật qua Kehr trước nội soi; và đặc điểm khi nội soi (mức độ trưởng thành đường hầm, vị trí và gánh nặng sỏi, tình trạng tắc nghẽn, viêm/dễ chảy máu ống mật). Phân tích mô tả. Kết quả: Tuổi trung bình 59,46 ± 13,85 (18–95); nữ 64,3% (nữ/nam ≈ 1,8:1). Không có bệnh nền chiếm 76,3%; đa số ASA II (84,1%) và ASA III (15,0%). Siêu âm ghi nhận sỏi trong gan 60,9%, ngoài gan/ống mật chủ 12,1% và phối hợp 27,0%. Khi nội soi, đường hầm Kehr ổn định 96,7%. Sỏi gây tắc nghẽn gặp ở 20,3%. Về phân bố sỏi quan sát được khi nội soi: trong gan 47,4%, ngoài gan 33,8%, phối hợp 18,8%; gánh nặng sỏi <5 viên 64,3% và sỏi cây 7,2%. Ống mật viêm, dễ chảy máu ghi nhận 10,1%. Kết luận: Bệnh nhân còn sỏi sau mổ được nội soi qua đường hầm Kehr chủ yếu là người lớn tuổi, nữ, ASA II–III; sỏi trong gan chiếm ưu thế. Đường hầm Kehr đa số trưởng thành tốt, thuận lợi cho tiếp cận nội soi.  

 To describe clinical, paraclinical, and cholangioscopic features in patients with residual bile duct stones undergoing cholangioscopy via a Kehr T-tube tract at Binh Dan Hospital. Methods: A retrospective descriptive study of 207 patients who underwent T-tube tract cholangioscopy at the Hepatobiliary Department, Binh Dan Hospital, f-rom January 2022 to April 2025. Collected variables included demographics, comorbidities and ASA class, pre-cholangioscopy ultrasound and T-tube cholangiography, and endoscopic findings (tract maturation, stone location/burden, obstruction, and inflamed/easily bleeding mucosa). Descriptive analysis was performed. Results: Mean age was 59.46 ± 13.85 years; 64.3% were female. Most patients had no comorbidities (76.3%); ASA II and III accounted for 84.1% and 15.0%, respectively. On ultrasound, intrahepatic stones accounted for 60.9%, extrahepatic/CBD stones 12.1%, and combined lesions 27.0%. The tract was mature in 96.7% of cases. Obstructive stones were present in 20.3%. At cholangioscopy, intrahepatic stones were seen in 47.4%, extrahepatic stones 33.8%, and combined lesions 18.8%; <5 stones in 64.3% and staghorn stones in 7.2%. Inflamed and easily bleeding bile ducts were noted in 10.1%. Conclusions: Patients undergoing T-tube tract cholangioscopy were predominantly elderly females with ASA II–III. Intrahepatic stones predominated, while most tracts were well matured, facilitating endoscopic access.

TTKHCNQG, CVv 417

  • [1] Bùi Mạnh Côn; Nguyễn Văn Xuyên; Nguyễn Đức Trung (2010), Đánh giá hiệu quả của phương pháp tán sỏi qua đường hầm Kehr trong điều trị triệt để sỏi đường mật ở người lớn tuổi,Tạp chí Y học thực hành