Lọc theo danh mục
liên kết website
Lượt truy cập
- Công bố khoa học và công nghệ Việt Nam
76
Trịnh Tiến Lực, Hồ Thị Dung, Thái Duy Thành, Hoàng Thị Thảo, Tô Thị Thu Hương
Một số yếu tố nguy cơ của bệnh nhân huyết khối tĩnh mạch não điều trị tại Trung tâm Thần kinh, Bệnh viện Bạch Mai
Some risk factors for cerebral venous thrombosis patients treated at The center of Neurology, Bach Mai hospital
Tạp chí Thần kinh học Việt Nam
2026
48
18-24
2354-0931
Phân tích một số yếu tố nguy cơ của huyết khối tĩnh mạch não nhằm quyết định thời gian dùng thuốc chống đông, loại thuốc chống đông sau giai đoạn cấp nhằm góp phần vào việc nâng cao hiệu quả điều trị HKTMN, qua đó giúp tăng khả năng hồi phục, giảm tỷ lệ tàn tật và giảm tỷ lệ tái phát của bệnh. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu tiến cứu mô tả cắt ngang trên 76 bệnh nhân được chẩn đoán huyết khối tĩnh mạch não điều trị tại Trung tâm Thần kinh – Bệnh viện Bạch Mai từ tháng 01 năm 2025 đến tháng 12 năm 2025. Các dữ liệu về đặc điểm chung của nhóm bệnh nhân nghiên cứu (tuổi, giới) và các yếu tố nguy cơ (tiền sử bệnh, các bệnh nội khoa, tiền sử thai sản, dùng thuốc tránh thai) được phân tích và đối chiếu. Kết quả: Độ tuổi trung bình của các đối tượng nghiên cứu là là 48,7±17,9 tuổi, không có sự khác biệt lớn giữa tỉ lệ nam và nữ. Các yếu tố nguy cơ của bệnh rất đa dạng, bao gồm thiếu protein S gặp nhiều nhất, gặp ở 25% số bệnh nhân nghiên cứu. Thiếu protein C và thiếu ATIII gặp với tỷ lệ ít hơn, lần lượt là 18,4% và 13,2%. Trong số các yếu tố nguy cơ tăng đông thứ phát liên quan đến sinh đẻ ở nhóm bệnh nhân nữ lứa tuổi sinh đẻ thì uống thuốc tránh thai kéo dài gặp ở 40%. Sau đẻ gặp ở 7 bệnh nhân, chiếm tỷ lệ 23,3%. Có thai gặp ở 16,7%, sau nạo xảy thai gặp ít nhất ở 10% số bệnh nhân nữ lứa tuổi sinh đẻ. Một số yếu tố nguy cơ khác gồm viêm màng não (7,9%), kháng thể kháng nhân dương tính (5,3%), kháng thể kháng chuỗi kép dương tính (3,9%), huyết khối chi dưới (5,3%). Trong nhiều yếu tố nguy cơ HKTMN chúng tôi cũng gặp bệnh Basedow, thiếu máu, đa hồng cầu, đái tháo đường, đột biến gen gây tăng đông và rò động tĩnh mạch màng cứng. Kết luận: Có 82,9% bệnh nhân có YTNC trong đó 55,3% bệnh nhân có một YTNC; 27,6% bệnh nhân có hai YTNC trở lên. Trong số bệnh nhân nữ HKTMN trong lứa tuổi sinh đẻ thuốc tránh thai đường uống là YTNC gặp với tỷ lệ cao nhất 40%. Đột biến gen gây tăng đông gặp ở 2 bệnh nhân, chiếm tỷ lệ 2,6% số bệnh nhân.
To analyze several risk factors for cerebral venous thrombosis (CVT) to determine the duration and type of anticoagulant therapy after the acute phase, thereby contributing to improved treatment efficacy of CVT, increasing recovery rates, reducing disability, and decreasing recurrence rates. Research Method: A prospective descriptive cross-sectional study was conducted on 76 patients diagnosed with CVT treated at the Neurology Center – Bach Mai Hospital f-rom January 2025 to December 2025. Data on the general c-haracteristics of the study group (age, gender) and risk factors (medical history, internal diseases, obstetric history, use of oral contraceptives) were analyzed and compared. Results: The average age of the study subjects was 48.7 ± 17.9 years, with no significant difference between the male and female ratios. Risk factors for the disease are diverse, with protein S deficiency being the most common, occurring in 25% of the study patients. Protein C deficiency and ATIII deficiency occurred at lower rates, 18.4% and 13.2%, respectively. Among the risk factors for secondary hypercoagulability related to childbirth in female patients of reproductive age, prolonged oral contraceptive use was present in 40% of cases. Postpartum use was present in 7 patients, accounting for 23.3%. Pregnancy was present in 16.7%, and postabortion was the least common in 10% of female patients of reproductive age. Other risk factors included meningitis (7.9%), positive antinuclear antibodies (5.3%), positive antidouble chain antibodies (3.9%), and lower extremity thrombosis (5.3%). Among the many risk factors for cerebrovascular disease, we also encountered Graves' disease, anemia, polycythemia, diabetes mellitus, hypercoagulable gene mutations, and dural arteriovenous fistula. Conclusion: 82.9% of patients had risk factors, of which 55.3% had one risk factor; 27.6% had two or more risk factors. Among female patients with cerebral venous thrombosis of reproductive age, oral contraceptives were the most common risk factor at 40%. Gene mutations causing hypercoagulability were found in 2 patients, accounting for 2.6% of the patients.
TTKHCNQG, CVv 425
- [1] Võ Hồng Khôi; Phan Hà Quân; Nguyễn Hải Anh (2022), Một số đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của huyết khối xoang tĩnh mạch dọc trên,Tạp chí Y học Việt Nam (Tổng hội Y học Việt Nam)
