Lọc theo danh mục
  • Năm xuất bản
    Xem thêm
  • Lĩnh vực
liên kết website
Lượt truy cập
 Lượt truy cập :  40,678,318
  • Công bố khoa học và công nghệ Việt Nam

76

3020204 - Vấn đề mang thai

BB

Trần Danh Trường, Phan Thanh Tài, Nguyễn Kim Vượng

Tăng cân thai kỳ, BMI trước mang thai và nguy cơ sinh con ≥ 4 kg: tổng quan tường thuật

Gestational weight gain, pre-pregnancy BMI, and the risk of delivering an infant ≥ 4,000 g: a narrative review

Y học Cộng đồng

2026

2

112-116

2354-0613

Tổng hợp bằng chứng giai đoạn 2010–2025 về mối liên quan giữa chỉ số khối cơ thể trước mang thai (BMI) và tăng cân thai kỳ (gestational weight gain – GWG) với nguy cơ thai to (macrosomia; cân nặng sơ sinh ≥4.000 g) và trẻ lớn hơn tuổi thai (large-for-gestational-age – LGA; > bách phân vị 90 theo tuổi thai và giới), đồng thời xem xét tính phù hợp của ngưỡng BMI châu Á và tóm lược dữ liệu Việt Nam. Phương pháp: Tổng quan tường thuật, ưu tiên tổng quan hệ thống/phân tích gộp, nghiên cứu đoàn hệ và hướng dẫn lâm sàng có ước lượng định lượng. GWG được phân loại dưới/đúng/vượt so với khuyến nghị Viện Y học Hoa Kỳ (IOM) 2009 theo từng nhóm BMI. Kết quả: Thừa cân/béo phì trước mang thai liên quan nhất quán với tăng nguy cơ macrosomia và LGA; một số đoàn hệ ghi nhận mỗi tăng 1 kg/m² BMI làm tăng nguy cơ macrosomia khoảng 13–24%. Các phân tích gộp cho thấy GWG vượt ngưỡng IOM làm tăng nguy cơ macrosomia (OR≈1,95) và LGA (OR≈1,85) so với tăng cân trong phạm vi khuyến nghị; ví dụ BMI bình thường nên tăng 11,5–16 kg. Ngưỡng BMI châu Á (thừa cân ≥23,0; béo phì ≥27,5 kg/m²) có thể phân tầng nguy cơ tốt hơn trong bối cảnh châu Á. Dữ liệu Việt Nam chủ yếu từ báo cáo bệnh viện, cho thấy tỷ lệ trẻ ≥4.000 g đáng kể nhưng còn không đồng nhất định nghĩa kết cục và mức độ hiệu chỉnh yếu tố nhiễu. Kết luận: BMI trước mang thai cao và GWG quá mức là yếu tố nguy cơ nhất quán, có thể can thiệp; cần tối ưu cân nặng trước thụ thai, tư vấn GWG theo IOM với cân nhắc ngưỡng BMI châu Á và kiểm soát đường huyết (đặc biệt ở đái tháo đường thai kỳ) để giảm macrosomia/LGA.

To synthesize evidence (2010–2025) on the associations of pre-pregnancy body mass index (BMI) and gestational weight gain (GWG) with the risks of macrosomia (birthweight ≥4,000 g) and large-for-gestational-age (LGA; >90th percentile for gestational age and sex), to evaluate the suitability of Asian BMI cut-offs, and to summarize Vietnam-specific data. Methods: A narrative review prioritizing systematic reviews/meta-analyses, cohort studies, and clinical guidelines reporting quantitative estimates. GWG was categorized as below/within/above the 2009 Institute of Medicine (IOM) recommendations by BMI group. Results: Pre-pregnancy overweight/obesity is consistently associated with higher risks of macrosomia and LGA; several cohorts report that each 1 kg/m² increase in BMI is linked to an approximately 13–24% higher macrosomia risk. Meta-analyses indicate that GWG above IOM ranges increases the risk of macrosomia (OR≈1.95) and LGA (OR≈1.85) compared with GWG within recommendations; for example, women with normal BMI are advised to gain 11.5–16 kg. Asian BMI thresholds (overweight ≥23.0; obesity ≥27.5 kg/m²) may improve risk stratification in Asian populations. In Vietnam, evidence is largely hospital-based, suggesting a substantial burden of birthweight ≥4,000 g, but heterogeneity in outcome definitions and confounder adjustment highlights the need for standardization and local validation of GWG targets. Conclusion: Higher pre-pregnancy BMI and excessive GWG are consistent, modifiable risk factors for fetal overgrowth; optimizing preconception weight, providing structured GWG counseling based on IOM guidance (with consideration of Asian BMI cut-offs), and achieving effective glycemic control especially in gestational diabetes may reduce macrosomia/LGA.

 

TTKHCNQG, CVv 417