Lọc theo danh mục
liên kết website
Lượt truy cập
- Công bố khoa học và công nghệ Việt Nam
76
3020403 - Nhồi máu cơ tim; Đột quỵ
BB
Vũ Mạnh Thắng, Nguyễn Minh Hùng, Mai Duy Tôn, Nguyễn Thị Thu Hoài, Giáp Thị Minh Nguyệt, Lưu Thị Bích Đào, Phạm Mạnh Hùng
Vai trò của siêu âm tim cản âm trong chẩn đoán lỗ bầu dục (PFO) ở người bệnh nhồi máu não
The role of contrast echocardiography in the diagnosis of patent foramen ovale in patients with ischemic stroke
Y học Cộng đồng
2026
2
46-51
2354-0613
Đánh giá vai trò của siêu âm tim cản âm qua thành ngực với chất cản âm tự tạo so với siêu âm tim qua thực quản trong chẩn đoán shunt phải-trái do tồn tại lỗ bầu dục (PFO) còn mở. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 51 người bệnh nhập viện vì nhồi máu não. Tất cả bệnh nhân đều được thực hiện siêu âm tim cản âm qua thành ngực (cTTE) và siêu âm tim cản âm qua thực quản (cTEE) với chất cản âm tự tạo. Kết quả: PFO được phát hiện ở 17 người bệnh (33,3%) trên cTTE so với 18 trường hợp (35%) phát hiện trên cTEE (χ2= 0,5; p≈1) sự khác biệt giữa 2 phương pháp là không có ý nghĩa thống kê. So với cTEE thì cTTE đã phát hiện được 94,4% trường hợp có PFO cho thấy sự phù hợp cao giữa hai phương pháp trong việc nhận diện PFO (Kappa=0.9). Hơn nữa, cTTE có ưu thế hơn trong việc đánh giá mức độ shunt phải-trái qua PFO đặc biệt là shunt mức độ lớn khi so sánh với cTEE (Z=-2,053, P = 0,04). Không có phản ứng bất lợi nào được phát hiện trong quá trình thực hiện cTEE và cTTE với chất cản âm tự tạo. Kết luận: cTTE với chất cản âm tự tạo là phương pháp đơn giản, không xâm lấn, chi phí thấp, phù hợp để phát hiện và chẩn đoán PFO.
To evaluate the role of contrast transthoracic echocardiography (cTTE) using self-prepared contrast compared with contrast transesophageal echocardiography (cTEE) in the diagnosis of right-to-left shunt caused by patent foramen ovale (PFO). Methods: A cross-sectional descriptive study was conducted on 51 patients admitted with ischemic stroke. All patients underwent both cTTE and cTEE using self-prepared contrast agents. Results: PFO was detected in 17 patients (33.3%) by cTTE compared with 18 patients (35%) by cTEE (χ² = 0.5; p ≈ 1), with no statistically significant difference between the two methods. Compared with cTEE, cTTE identified 94.4% of PFO cases, indicating a high level of agreement between the two modalities (Kappa = 0.9). Moreover, cTTE showed superiority in assessing the degree of right-to-left shunt through PFO, particularly in detecting large shunts, when compared with cTEE (Z = –2.053, p = 0.04). No adverse reactions were observed during either cTTE or cTEE using self-prepared contrast.Conclusion: cTTE with self-prepared contrast is a simple, non-invasive, and cost-effective method suitable for detecting and diagnosing PFO.
TTKHCNQG, CVv 417
