Các nhiệm vụ khác
- Phụ nữ Việt Nam kết hôn với người nước ngoài: Thực trạng và một số vấn đề xã hội đặt ra
- Nghiên cứu việc triển khai tích hợp hệ thống giám sát biến đổi khí hậu cho mạng lưới quan trắc môi trường thành phố Hồ Chí Minh
- Hoàn thiện hệ thống kế toán áp dụng cho các quỹ tài chính nhà nước ở Việt Nam
- Nghiên cứu trồng thử nghiệm cây Ba kích dưới tán cây lâm nghiệp cây ăn quả tại Tây Yên Tử huyện Sơn Động tỉnh Bắc Giang
- Nghiên cứu sản xuất loại phân bón chuyên dùng cho cây bưởi đặc sản Đoan Hùng Phú Thọ
- Nghiên cứu xây dựng bản đồ công nghệ lĩnh vực an toàn thông tin ở Việt Nam
- Xây dựng, quản lý và phát triển nhãn hiệu chứng nhận “Trám đen Hiệp Hòa” cho sản phẩm quả trám đen của huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang.
- Xây dựng mô hình sản xuất khổ qua ghép gốc mướp tại huyện Thanh Bình tỉnh Đồng Tháp
- Nghiên cứu một số vấn đề liên quan tới tư liệu trắc địa bản đồ tư liệu địa chính khi sử dụng hệ thống tọa độ Quốc gia Hà Nội-94
- Nghiên cứu trồng thử nghiệm cây Ba kích dưới tán rừng tại tỉnh Cao Bằng
liên kết website
Lượt truy cập
- Kết quả thực hiện nhiệm vụ
Hiện trạng đặc điểm phân bố động vật đáy và trầm tích trong thủy vực sông Hậu (đoạn qua Thị trấn Mái Dầm) huyện Châu Thành – Tỉnh Hậu Giang
Trường Đại Học Cần Thơ
Tỉnh/ Thành phố
PGS. TS Nguyễn Văn Công
TS. Trần Sỹ Nam(1), ThS. Huỳnh Văn Thảo, ThS. Dương Trí Dũng, ThS. Huỳnh Công Khánh, ThS. Nguyễn Thị Thùy, ThS. Nguyễn Thị Mộng Tuyền
1 - Khoa học tự nhiên
01/01/2018
2020
Hậu Giang
120
Kết quả nghiên cứu chất lượng môi trường nước cho thấy giá trị các thông số biến động theo thời gian và không gian. Các thông số pH, N-NO3-, P-PO43-, COD, BOD5, EC, phenol, As, Cu, Pb, Cd đều thấp hơn giới hạn quy định cột A2 QCVN 08-MT:2015/BTNMT. Có 20% mẫu Nitrite vượt QCVN 08-MT:2015/BTNMT (cột A2) từ 1,2 đến 5 lần, 18% mẫu amoni vượt QCVN 08-MT:2015/BTNMT (cột A2) từ 1,03 đến 2,53 lần, 60% mẫu thu có tổng sắt vượt giới hạn nước cấp sinh hoạt từ 1,01 – 3,86 lần, đặc biệt là trong giai đoạn tháng 8-10; 65% mẫu có TSS vượt giới hạn nước cấp sinh hoạt từ 1,03 – 3,93 lần.
Đối với trầm tích, kết quả phân tích cho thấy các thông số môi trường của trầm tích đều nằm trong giới hạn cho phép. Thông số Cd ở tất cả các mẫu thấp hơn ngưỡng giới hạn phát hiện. Hai thông số As và Pb trong trầm tích dù phát hiện nhưng luôn ở mức thấp hơn giới hạn cho phép của QCVN 43:2012/BTNMT (trầm tích nước ngọt);
Đối với mẫu động vật đáy, nghiên cứu đã phát hiện được 3 nhóm gồm Annelida, Arthropoda và Mollusca trong vùng nghiên cứu. Tổng số loài phát hiện được biến động từ 13 – 26 loài qua các tháng thu mẫu. Trong đó số loài thấp nhất ở tháng 6/2017 (13 loài) và cao nhất ở tháng 10/2017 (26 loài). Nhóm Annelida có số loài xuất hiện chiếm tỷ lệ trung bình thấp nhất (28%); nhóm Mollusca có số loài xuất hiện chiếm tỷ lệ trung bình 30,3%; trong khi đó nhóm Arthropoda có tỷ lệ trung bình cao nhất (41,8%). Nhóm Arthropoda chiếm ưu thế về mật độ, kế đến là nhóm Annelida và thấp nhất là Mollusca. Chỉ số đa dạng sinh học H’ dao động trong khoảng 1,71 – 2,28. Kết quả sinh học phản ảnh nước từ ô nhiễm nhẹ đến ô nhiễm. Chỉ số đa dạng sinh học H’ động vật đáy cho thấy từ tháng 3 đến tháng 11/2017 nước thay đổi qua lại giữa ô nhiễm nhẹ - ô nhiễm nhưng sau đó ổn định và luôn ở mức ô nhiễm nhẹ như giai đoạn trước khi nhà máy Lee&Man xả thải. Kết quả đề tài là thông tin nền quan trọng để đánh giá diễn biến chất lượng môi trường trong sự phát triển các hoạt động công nghiệp và kinh tế xã hội khác trong vùng nghiên cứu.
Cần tiếp tục theo dõi diễn biến thông số Fetổng, phenol và đi sâu tìm hiểu nguồn phát sinh 2 thông số này. Lắp đặt trạm quan trắc liên tục nước mặt tại khu công nghiệp Sông Hậu nhằm giám sát chặt chẽ tình hình diễn biến chất lượng môi trường nước mặt để dự báo, cảnh báo ô nhiễm kịp thời, phục vụ tốt cho việc khai thác và sử dụng nước mặt của địa phương.
hgi-2020-006
