Các nhiệm vụ khác
- Nghiên cứu một số giải pháp khoa học và công nghệ để phục hồi và phát triển đàn bò của đồng bào Mông tại tỉnh Bắc Kạn
- Điều tra đánh giá đa dạng sinh học tỉnh Bình Dương nhằm xây dựng giải pháp quản lý và sử dụng hợp lý
- Khảo sát thực trạng xây dựng mô hình cơ sở sản xuất Bún tươi đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm tại thành phố Châu Đốc năm 2018 – 2019
- Bảo tồn và lưu giữ nguồn gen thực vật nông nghiệp
- Hệ sinh thái rạn san hô miền Nam (Sử dụng hợp lý các hệ sinh thái tiêu biểu ở vùng ven bờ Việt Nam Giai đoạn 1991 - 1995)
- Xây dựng mô hình trồng chè thâm canh bằng giống mới kết hợp với chế độ canh tác cải tiến tại hai huyện Phù Ninh và Thanh Ba tỉnh Phú Thọ
- Chuyển đổi và điều chỉnh sách giáo khoa lớp 1 sang chữ nổi cho học sinh mù
- Xây dựng quy trình sản xuất giống và nuôi thương phẩm cá niên (Onvchostoma gerlachi WKH Peters 1881) trên địa bàn huyện Kon Plông tỉnh KonTum
- Điều tra cơ bản và áp dụng điều trị cai nghiện ma túy bằng phương pháp đông riêu nhân tạo kết hợp với đông y bổ trợ
- Nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội đối với đầu tư nhà nước vào khu vực công cộng ở nông thôn Việt Nam
liên kết website
Lượt truy cập
- Kết quả thực hiện nhiệm vụ
958/GCN-KQNV
Nghiên cứu đặc điểm dịch tế gen bệnh thalassemia của người dân tộc Tày Nùng trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn
Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lạng Sơn
UBND Tỉnh Lạng Sơn
Tỉnh/ Thành phố
BSCKII. Phan Thanh Huy
BSCKII. Phan Thanh Huy, BSCKI. Phạm Thế Vinh, CN. Lục Thị Ngọc Hoài, BSCKII. Nguyễn Thế Toàn, GS. Nguyễn Anh Trí(1), ThS. Ngô Huy Minh, CN. Đỗ Khải Hoàn, BSCKI. Hoàng Mạnh Cương, CN. Nguyễn Hồng Đăng, BS. Nông Thị Nòm
Khoa học y, dược
01/12/2017
01/06/2019
2019
Lạng Sơn
68 tr
2. Đề xuất một số giải pháp khả thi phòng ngừa, hạn chế tác hại và phát tán bệnh Thal trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn.
- Tỷ lệ mang gen Thal chung của người dân tộc Tày, Nùng ở Lạng Sơn là 27,5%, cao hơn tỷ lệ mang gen chung của các dân tộc ít người sống chủ yếu ở Trung du và miền núi phía Bắc là 16,89%. Sự khác biệt về tỷ lệ mang gen bệnh giữa 2 dân tộc không có ý nghĩa thống kê. Trong khi đó căn bệnh này còn hầu như chưa được quan tâm tại Lạng Sơn.
- Thal là bệnh di truyền có phân bố khá đồng đều trong cộng đồng 2 dân tộc Tày, Nùng dù ở các địa bàn khác nhau. Giới tính không liên quan với tình trạng mang gen bệnh Thal. Do đó cần chú trọng quản lý, truyền thông trong toàn tỉnh và cả đối tượng nam vẫn hay bỏ quên trong các chương trình chăm sóc sức khỏe sinh sản.- Ở người dân tộc Tày và Nùng tại Lạng Sơn, kết quả nghiên cứu cho thấy ngoài sự tương đồng về các kiểu gen bệnh, tỷ lệ các thể gen bệnh cũng tương đồng với các dân tộc ít người Trung du và miền núi phía Bắc, Nam Trung Quốc và có sự khác biệt rõ rệt với các dân tộc ở miền Trung, Tây Nguyên và Nam Bộ.
Ở người Tày, Nùng của Lạng Sơn, tỷ lệ và các thể đột biến gen α và β Thal có sự tương đồng với đột biến của các dân tộc ít người ở Trung du, miền núi phía Bắc và khác biệt rõ rệt với Miền Trung – Tây Nguyên và Miền Nam. Các đột biến Thái và Fil không gặp ở dân tộc Nùng, dân tộc Tày có gặp đột biến Thái nhưng tỷ lệ rất thấp.
Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Lạng Sơn
LSN-2019-007
