Các nhiệm vụ khác
- Phụ nữ Việt Nam kết hôn với người nước ngoài: Thực trạng và một số vấn đề xã hội đặt ra
- Nghiên cứu việc triển khai tích hợp hệ thống giám sát biến đổi khí hậu cho mạng lưới quan trắc môi trường thành phố Hồ Chí Minh
- Hoàn thiện hệ thống kế toán áp dụng cho các quỹ tài chính nhà nước ở Việt Nam
- Nghiên cứu trồng thử nghiệm cây Ba kích dưới tán cây lâm nghiệp cây ăn quả tại Tây Yên Tử huyện Sơn Động tỉnh Bắc Giang
- Nghiên cứu sản xuất loại phân bón chuyên dùng cho cây bưởi đặc sản Đoan Hùng Phú Thọ
- Nghiên cứu xây dựng bản đồ công nghệ lĩnh vực an toàn thông tin ở Việt Nam
- Xây dựng, quản lý và phát triển nhãn hiệu chứng nhận “Trám đen Hiệp Hòa” cho sản phẩm quả trám đen của huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang.
- Xây dựng mô hình sản xuất khổ qua ghép gốc mướp tại huyện Thanh Bình tỉnh Đồng Tháp
- Nghiên cứu một số vấn đề liên quan tới tư liệu trắc địa bản đồ tư liệu địa chính khi sử dụng hệ thống tọa độ Quốc gia Hà Nội-94
- Nghiên cứu trồng thử nghiệm cây Ba kích dưới tán rừng tại tỉnh Cao Bằng
liên kết website
Lượt truy cập
- Kết quả thực hiện nhiệm vụ
P.2016.4
2018-29-NS-ĐKKQ
Hoàn thiện quy trình sản xuất giống và nuôi thương phẩm cá Còm ( Chitala ornata Gray 1831) trên địa bàn thành phố HàNội
Viện Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản I
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Tỉnh/ Thành phố
ThS. Nguyễn Thị Biên Thùy
TS. Lê Văn Khôi(1), TS. Đinh Văn Trung, ThS. Đỗ Văn Thịnh, ThS. Trần Thị Mai Hương, ThS. Nguyễn Khắc Lâm, KS. Nguyễn Thị Niên
40504 - Nuôi trồng thuỷ sản
01/07/2016
01/07/2018
2018
Hà Nội
- Hoàn thiện được quy trình sản xuất giống cá còm đạt: tỷ lệ thành thục ≥ 80%, tỷ lệ đẻ ≥ 80%, tỷ lệ thụ tinh ≥ 85%, tỷ lệ nở ≥ 80%, tỷ lệ sống từ bột lên hương ≥ 70%, tỷ lệ sống từ hương lên giống ≥ 80%.
- Hoàn thiện được quy trình nuôi thương phẩm cá còm trong ao đạt năng suất trên 10 tấn/ha, cỡ cá thu hoạch ≥ 500 gram/con, cá thương phẩmđảm bảo an toàn thực phẩm.
- Sản xuất được mô hình nuôi thương phẩm cá còm, quy mô 2 ha/vụ, năng suất đạt trên 10 tấn/ha và hiệu quả kinh tế cao hơn so với nuôi cá truyền thống tối thiểu 10%.
HNI-2018-29/ĐK-TTTT&TK
