Các nhiệm vụ khác
- Khảo sát sự phụ thuộc vào nhiệt độ và áp suất của cấu trúc và các tính chất nhiệt động học của silicene lỏng và vô định hình bằng phương pháp động lực học phân tử
- Nghiên cứu xây dựng mô hình bảo tàng thiên nhiên - văn hoá mở tại khu dự trữ sinh quyển Tây Nghệ An
- Nghiên cứu điều chế vật liệu mang thuốc có đặc tính hiệp đồng trên cơ sở chấm lượng tử graphen ứng dụng trong điều trị ung thư
- Nghiên cứu ứng dụng các giải pháp kỹ thuật để sửa chữa và gia cường bằng lưới sợi basalt (BRFP) và các-bon (CFRP) nhằm tăng cường hiệu quả sử dụng và tuổi thọ cho các công trình cầu ở ĐBSCL
- Tính ổn định của pháp luật Việt Nam: Lý luận thực trạng và giải pháp
- Nghiên cứu ứng dụng chế phẩm vi sinh vật quang dưỡng trong sản xuất rau an toàn trên địa bàn tỉnh Hải Dương
- Xây dựng mô hình dâu lai F1-VH15 F1-Vh17 phục vụ nuôi tằm tại một số địa phương trên địa bàn tỉnh Hải Dương
- Nghiên cứu ứng dụng liệu pháp tế bào CAR-T trong điều trị bạch cầu nguyên bào lympho cấp
- ứng dụng CNTT trong công tác khám chữa bệnh tại bệnh viện đa khoa Thành phố Nam Định
- Nghiên cứu chọn tạo dòng lợn nái tổng hợp và lợn đực cuối cùng từ nguồn gen nhập nội có năng suất chất lượng cao phục vụ chăn nuôi tại các tỉnh phía Bắc
liên kết website
Lượt truy cập
- Ứng dụng kết quả thực hiện nhiệm vụ
KQ050273
2022-02-0261/KQNC
Nghiên cứu chọn tạo dòng lợn nái tổng hợp và lợn đực cuối cùng từ nguồn gen nhập nội có năng suất chất lượng cao phục vụ chăn nuôi tại các tỉnh phía Bắc
Viện Chăn nuôi
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Bộ
TS. Trịnh Hồng Sơn
ThS. Phạm Duy Phẩm; TS. Trịnh Quang Tuyên; TS. Nguyễn Thi Hương; ThS. Nguyễn Long Gia; PGS.TS. Đỗ Đức Lực; TS. Trần Thị Bích Ngọc; Tống Duy Hưng; Nguyễn Thành Nam; Nguyễn Kim Tiệp
Di truyền và nhân giống động vật nuôi
01/01/2017
01/12/2021
24/02/2022
2022-02-0261/KQNC
18/03/2022
Cục thông tin KH&CN Quốc gia
Ngành chăn nuôi lợn ở nước ta hiện nay phụ thuộc chủ yếu vào nguồn con giống được nhập khẩu từ các nước trên thế giới. Hàng năm, nước ta chi hàng trăm tỷ đồng để nhập khẩu con giống. Mặt khác, nhập khẩu giống từ các nước khác nhau dẫn đến lây lan dịch bệnh.
Nhiều dịch bệnh gây hại nghiêm trọng đối với ngành chăn nuôi lợn nước ta, như bệnh tai xanh, lở mồm long móng...gây thiệt hại lớn cho người chăn nuôi nói riêng và đối với phát triển kinh tế xã hội nước ta nói chung. Do đó, sản phẩm đề tài là Lợn dòng đực DVNL DVN2; dòng nái LVN, YVN; tổ hợp lợn nái bố mẹ PS 1 và PS2; lợn thương phẩm TP 1, TP2, TP3 và TP4 xuất phát từ các dòng lợn nêu trên. Các dòng lợn, tổ hợp lợn này đã được công nhận là tiến bộ kỹ thuật tại Quyết định số 241/QĐ-CN-GVN ngày 30/11/2021 của Cục trưởng Cục Chăn nuôi. Các dòng lợn này cùng với quy trình chăn nuôi sẽ được chuyển giao cho người chăn nuôi góp phần hạn chế được những vấn đề trên và góp phần đưa ngành chăn nuôi lợn nước ta phát triển, tăng khả năng cạnh tranh khi hội nhập quốc tế và tăng thu nhập cho người chăn nuôi.
Các sản phẩm của đề tài gồm Lợn dòng đực DVN1, DVN2; dòng nái LVN, YVN; tổ hợp lợn nái bố mẹ PS1 và PS2; lợn thương phẩm TP1, TP2, TP3 và TP4 xuất phát từ các dòng lợn nêu trên. Các dòng lợn, tổ hợp lợn này đều có năng suất và chất lượng cao từ đó làm tăng lợi nhuận cho người chăn nuôi. Điều này sẽ thúc đẩy mở rộng chăn nuôi, thu hút nguồn nhân lực lao động tham gia vào lĩnh vực, tạo thêm nhiều công ăn việc làm, ổn định thu nhập cho người lao động.
Các đơn vị tiếp nhận con giống đã chăm sóc, nuôi dưỡng theo đúng quy trình được Trung tâm Nghiên cứu lợn Thụy Phương chuyển giao và đều cho kết quả năng suất sinh sản, sinh trưởng tốt, tăng hiệu quả chăn nuôi tại cơ sở.
- Hiệu quả kinh tế: Ngành chăn nuôi lợn ở nước ta hiện nay phụ thuộc chủ yếu vào nguồn con giống được nhập khẩu từ các nước trên thế giới. Hàng năm, nước ta chi hàng trăm tỉ đồng để nhập khẩu con giống. Mặt khác, nhập khẩu giống từ các nước khác nhau dẫn đến lây lan dịch bệnh. Nhiều dịch bệnh gây hại nghiêm trọng đối với ngành chãn nuôi lợn nước ta, như bệnh tai xanh, lở mồm long móng...gây thiệt hại lớn cho người chăn nuôi nói riêng và đối với phát triển kinh tế xà hội nước ta nói chung. Do đó, sản phầm đề tài là Lợn dòng đực DVN1, DVN2; dòng nái LVN, YVN; tổ hợp lợn nái bố mẹ PS1 và PS2; lợn thương phẩm TP1, TP2, TP3 và TP4 xuất phát từ các dòng lợn nêu trên. Các dòng lợn, tổ hợp lợn này đà được công nhận là tiến bộ kỹ thuật tại Quyết định số 241/QĐ-CN-GVN ngày 30/11/2021 của Cục trưởng Cục Chăn nuôi. Các dòng lợn này cùng với quy trình chăn nuôi sẽ được chuyển giao cho nguời chăn nuôi góp phần hạn chế được những vấn đề trên và góp phần đưa ngành chăn nuôi lợn nước ta phát triển, tăng khả năng cạnh tranh khi hội nhập quốc tế và tăng thu nhập cho người chăn nuôi.
-
Tác động kinh tế - xã hội: Các sản phẩm của đề tài gồm Lợn dòng đực DVN1, DVN2; dòng nái LVN, YVN; tổ hợp lợn nái bố mẹ PS1 và PS2; lợn thương phẩm TP1, TP2, TP3 và TP4 xuất phát từ các dòng lợn nêu trên. Các dòng lợn, tổ hợp lợn này đều có năng suất và chất lượng cao từ đó làm tăng lợi nhuận cho người chăn nuôi. Điều này sẽ thúc đẩy mở rộng chăn nuôi, thu hút nguồn nhân lực lao động tham gia vào lĩnh vực, tạo thêm nhiều công ăn việc làm, ổn định thu nhập cho người lao động. Ngoài ra, các tổ hợp lai, lợn thịt thương phẩm có chất lượng cao, giá thành thấp góp phần giảm chi phí cho người chăn nuôi lợn nhằm phát triển chăn nuôi bền vững trong điều kiện hội nhập với nền kinh tế thế giới. Tạo ra sản phẩm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về thực phẩm an toàn cho xã hội, nâng cao cuộc sống đảm bảo cho việc phát triển bền vững kinh tế xã hội.
-
Hiệu quả về khoa học và công nghệ: Đề tài đã ổn định và nâng cao năng suất các dòng lợn từ nguồn gen nhập nội để chọn tạo các dòng lợn tổng hợp theo hai hướng dòng đực (dòng DVN1 và dòng DVN2) và dòng nái ông bà (dòng LVN và dòng YVN). Các dòng lợn trên đã giúp định hướng xây dựng được hệ thống sản xuất giống hoàn chỉnh, thống nhất hệ thống quản lý, xây dựng được giá trị giống chung giúp tăng cao năng suất và chất lượng đàn lợn. Xây dựng được hệ thống liên kết trong chăn nuôi giữa các sở nghiên cứu của nhà nước với các doanh nghiệp tư nhân và hệ thống mạng lưới chăn nuôi cơ sở.
Các dòng lợn được chọn lọc thông qua chỉ tiêu về sinh trưởng như: tuổi đạt 100kg, tỷ lệ mỡ giắt và tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng, tỷ lệ nạc; chọn lọc chỉ tiêu sinh sản là số con cai sữa/nái/năm. Chọn lọc được tiến hành qua nhiều thế hệ nhằm tạo được các dòng lợn đực và lợn cái có khả năng sinh trưởng, năng suất sinh sản ổn định, đáp ứng được nhu cầu của người chăn nuôi nước ta. Từ đó chủ động được giống lợn, lợn giống có khả năng thích nghi cao, hạ giá thành, giảm chi phí chăn nuôi từ đó có khả năng cạnh tranh khi hội nhập với thế giới
Nghiên cứu chọn tạo; Dòng lợn nái; Lợn đực; Nguồn gen nhập nội; Năng suất; Chất lượng cao; Phục vụ chăn nuôi
Ứng dụng
Đề tài KH&CN
Khoa học nông nghiệp,
Số lượng công bố trong nước: 0
Số lượng công bố quốc tế: 0
không
Không
