Các nhiệm vụ khác
liên kết website
Lượt truy cập
 Lượt truy cập :  34,372,941
  • Ứng dụng kết quả thực hiện nhiệm vụ

KC.08.30/11-15

2016-12-046

Nghiên cứu xác định khả năng chịu tải và dòng chảy tối thiểu của sông Vu Gia - Thu Bồn

Viện Nước, Tưới tiêu và Môi trường

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

Quốc gia

PGS.TS. Nguyễn Văn Tỉnh

PGS.TS. Nguyễn Quang Trung, TS. Lê Xuân Quang, ThS. Nguyễn Thị Kim Dung, ThS. Nguyễn Xuân Lâm, ThS. Đặng Thị Hà Giang, TS. Ngô Văn Quân, ThS. Nguyễn Thị Thùy Linh, ThS. Nguyễn Quang An, TS. Nguyễn Thanh Lâm

Thuỷ văn; Tài nguyên nước

04/2013

09/2015

21/11/2015

2016-12-046

19/01/2016

Cục thông tin KH&CN Quốc gia

(1). Qua cácnghiên cứu trên, có thể thấy, vấn đề “nghiên cứu các phương pháp xác định khả năng chịu tải của lưu vực sông  ở Việt Nam” chỉ mới bắt đầu. Nhìn chung, các nghiên cứu trong nước mới tiếp cận khái niệm hoặc một số phương pháp đánh giá nhanh theo các chỉ số, đơn giản nhưng thông dụng của thế giới. Các nghiên cứu cũng bước đầu tìm hiểu để tiến tới xây dựng các phương pháp “xác định khả năng chịu tải 

của lưu vực sông” phù hợp với tình hình số liệu, năng lực và điều kiện của các lưu vực sông ở Việt Nam. Qua việc phân tích, đánh giá tình hình nghiên cứu ở nước ngoài có thể thấy những tiêu chí, phương pháp nghiên cứu về xác định khả năng chịu tải của lưu vực sông rất đa dạng trải dài trên các lục địa cũng như các miền khí hậu. Việc áp dụng cứng nhắc một phương pháp nào vào điều kiện Việt Nam là rất khó mà cần sự kết hợp của các phương pháp và tìm ra những đặc điểm phù hợp nhất đối với điều kiện thực tế của sông Vu Gia – Thu Bồn. Đề tài đã xác định phương pháp xác định khả năng chịu tải là phương pháp phổ biến trên thế giới và trong nước, phương pháp xác định khả năng chịu tải đã được hướng dẫn áp dụng trong thông số 02/2009/TT-BTNMT ngày 19 tháng 3 năm 2009 của Bộ Tài nguyên Môi trường về việc quy định đánh giá khả năng tiếp nhận nước thải của nguồn nước.

(2). Nguồn nước đến trong năm của lưu vực sông Vu Gia Thu Bồn rất phong phú có thể đáp ứng nhu cầu dùng nước của các ngành trong các vùng và trong toàn lưu vực. Nguồn nước đến toàn lưu vực đạt từ 11,46 tỷ m3 đến 20,36 tỷ m3 tương ứng với các tần suất 98% đến 75%. Trong khi đó  tổng nhu cầu sử dụng nước toàn lưu vực cần hơn 800 triệu m3 năm 2012 và hơn 1,1 tỷ m3 năm 2020, chỉ chiếm dưới 10% tổng lượng nước đến. Giai đoạn hiện trạng 2012 lượng nước sử dụng chủ yếu là nước cho nông nghiệp với tổng nhu cầu sử dụng gần 673 triệu m3, trong đó vùng hạ lưu sông Thu Bồn và sông Ly Ly có nhu cầu sử dụng nước nhiều nhất đạt hơn 297 triệu m3, tiếp đến là vùng thượng lưu sông Thu Bồn tính đến Giao Thủy có nhu cầu sử dụng nước gần 161 triệu m3. Vùng thượng lưu Vu Gia có lượng nước sử dụng trong nông nghiệp ít nhất khoảng 19 triệu m3.

(3). Kết quả tính toán cân  bằng cho thấy các nút sử dụng nước cho nông nghiệp được cấp với mức bảo đảm khá cao. Phần lớn các nút được có hơn 80% số tháng được cấp hơn 75% nhu cầu sử dụng. Một số khu vực được cấp với mức bảo đảm thấp như khu vực suối Đak Pet, suối Khe Yung, khe Đence, khu vực lấy nước từ các hồ đập nhỏ ven sông Vu Gia có trên 50% số tháng chỉ cấp được dưới 50% nhu cầu. Tại các khu tưới này các công trình phần lớn là đập dâng hoặc hồ chứa nhỏ được xây dựng ở vị trí có diện  tích lưu vực ít nên nguồn nước đến không đủ cấp cho nhu cầu sử dụng. Cần bổ sung lượng nước cấp thiếu bằng việc xây dựng thêm các hồ chứa để tăng dung tích trữ nước.

(4) Kết quả đánh giá khả năng tiếp nhận nguồn nước đối với BOD tại thời điểm khảo sát tháng 9 năm 2013 và tháng 4 năm 2014 cho thấy lần lượt có 5/15 mặt cắt và 6/15 mặt cắt vượt quá khả năng tiếp nhận của LVS. Chỉ số COD thì có tới 8/15 mặt cắt xét đều vượt quá, một số đoạn sông cho chỉ số Ln>0, chứng tỏ còn khả năng tiếp nhận như tại chân cầu cầu Lâu cắt Quốc lộ 1A trên sông Thu Bồn. Đối với chỉ số NH4+ cho thấy phần lớn các đoạn sông còn khả năng tiếp nhận. Đối với chỉ số DO khảo sát đợt 1 vào tháng 9/2013, toàn bộ LVS đều có khả năng tiếp nhận, đợt 2 vào tháng 4/2014 có 2/15 mặt cắt được khảo sát đã hết khả năng tiếp nhận. Đối với tổng chất rắn lơ lửng (TSS) cho thấy đợt 1 tháng 9/2013 có 8/15 mặt cắt được khảo sát không còn khả  năng tiếp  nhận, đợt 2 tháng 4 năm 2014 có 3/15 mặt cắt không còn khả năng tiếp nhận. Dự báo đến năm 2020: kết quả cho thấy 5/15 điểm không còn khả năng tiếp nhận với BOD; 6/15 điểm không còn khả năng tiếp nhận COD; 6/15 mặt cắt (từ MC1 đến MC5) và MC13 đã hết khả năng tiếp nhận NH4+, 1/15 mặt cắt có chỉ số DO đều vượt ngưỡng cho phép, (MC14), 3/15 mặt cắt đã hết khả năng tiếp nhận TSS. Nhìn chung những điểm có các chỉ số vượt tải đều ảnh hưởng của xâm nhập mặn.

(5) Tác động điều tiết rất lớn của hệ thống hồ chứa đến chế độ dòng chảy và xâm nhập mặn vùng hạ du. Cụ thể là các trường hợp có sự tham gia của các hồ với chế độ vận hành lúc mới xây dựng sẽ làm giảm dòng chảy về phía Vu Gia và làm tăng dòng chảy về phía Thu Bồn. Hệ quả của hiện tượng này là sự gia tăng mạnh mẽ của xâm nhập mặn vùng hạ du đặc biệt là phía Vu Gia, ảnh hưởng rất mạnh đến độ mặn tại nhà máy nước Cầu Đỏ. Cũng như vậy, mô hình Mike 11 Ecolab cũng đã được sử dụng để mô phỏng chất lượng nước cho 4 chỉ tiêu thông dụng là DO, NH4, NO3 và BOD, các kết quả tính toán cũng chỉ ra, trong tất cả trường hợp kiệt, chất lượng nước tại các vị trí ở hạ lưu sông Vu Gia thường không đạt yêu cầu so sánh với QCVN 08:2008/BTNMT A2 và xấu hơn các sông khác, điều này sẽ ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nước sinh hoạt cấp cho nhà máy nước Cầu Đỏ và cho các nhà máy cấp nước phía Đà Nẵng.

(6) Đề tài đã xây dựng được phương pháp luận và cơ sở khoa học về xác định dòng chảy tối thiếu bao gồm: (i) Dòng chảy tối thiểu được quy định tại các điểm kiểm soát và được thực hiện trên cả dòng sông hay từng đoạn sông; (ii) Dòng chảy tối thiểu là một quá trình dòng chảy (lưu lượng và mực nước) theo thời gian. Dòng chảy tối thiểu là dòng chảy ở mức thấp nhất cần thiết để duy trì dòng sông hoặc đoạn sông nhằm: (a) bảo đảm sự phát triển bình thường của hệ sinh thái thủy sinh và (b) bảo đảm mức tối thiểu cho hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên nước của các đối tượng sử dụng nước.

(7). Dòng chảy tối thiểu tại điểm kiểm soát cần có sự đồng thuận của tất cả các bên liên quan, đảm bảo hài hòa giữa các lợi ích kinh tế - xã hội và môi trường. Báo cáo đã đưa ra các tiêu chí xác định điểm kiểm soát DCTT trên sông: (i) Đại diện cho tính liên tục của dòng chảy trên dòng sông hoặc đoạn sông; (ii) Điểm kiểm soát phải đại diện cho môi trường sống của các loài thủy sinh, các khu bảo tồn, các vùng đất ngập nước quan trọng và tại vị trí đại diện cho dòng sông hoặc đoạn sông có ý nghĩa quan trọng đối với nhu cầu sinh kế của người dân hai bên; (iii) Đại diện cho việc khai thác và sử dụng nước dưới hạ du; đại diện cho việc khai thác, sử dụng nước của các hộ sử dụng nước lớn, quan trọng; (iv) Hạ lưu các công trình điều tiết nước, các công trình chuyển nước, các công trình có nhiệm vụ đảm bảo duy trì dòng chảy hạ du do có tác động trực tiếp đến ĐKS; (v) Có ý nghĩa thực tiễn cho công tác quản lý tài nguyên nước và giám sát việc khai thác, sử dụng nước trên sông; Ưu tiên lựa chọn các trạm thủy văn.

(8) Đề xuất phương pháp xác định DCTT trên sông: (i) Đề xuất phương pháp xác định DCTT bảo đảm duy trì dòng sông và hệ sinh thái thủy sinh. Đó là phương pháp thủy văn kết hợp với chuyên gia. (ii) Đề xuất phương pháp xác định DCTT đảm bảo cho các hoạt động khai thác, sử dụng nước dưới hạ du. (iv) Đề xuất các căn cứ cho việc lựa chọn chế độ DCTT trên sông, bao gồm cả lưu lượng và mực nước.

Trên cơ sở này,  kết hợp các công cụ tính toán khác nhau như thống kê, mô hình Mike 11, Mike Basin, các tính toán nhu cầu nước…Báo cáo đã chỉ ra các mức yêu cầu tại các điểm kiểm soát và dòng sông như sau:

            Trên sông Vu Gia: thời kỳ cấp nước gia tăng (tháng 5), lưu lượng tối thiểu tại Ái Nghĩa : QAi Nghia = 53,3 m3/s, và HAiNghia = 2,84 m; Và thời kỳ cấp nước thông thường (mọi tháng trong năm):  QAiNghia = 34,6 m3/s, và HAiNghia = 2,64 m.

            Tại ngã ba Vu Gia, sông Bung là 39.97 m3/s (gia tăng) và 30.16 m3/s (thông thường), Thành Mỹ 28.56 m3/s (gia tăng) và 22.04 m3/s (thông thường), sông Kone 6.76 m3/s (gia tăng) và 2.9 m3/s (thông thường). Về phía Nông Sơn là 79.63 m3/s (gia tăng) và 66.98 m3/s (thông thường).

Trên sông Thu Bồn: Tại Giao Thủy thời kỳ cấp nước gia tăng lưu lương tối thiểu là 123,1 m3/s; mực nước là 1,24m. Thời kỳ cấp nước thông thường, lưu lượng là 102,5 m3/s và mực nước là 1,13m.

(9).  Đề tài đã xây dựng hệ cơ sở dữ liệu về lưu vực sông Vu Gia – Thu Bồn, trong đó tích hợp các bản đồ, ảnh viễn thám và các dữ liệu điều tra về tài nguyên, môi trường và các hệ sinh thái.

11886

Có cơ sở khoa học để xây dựng các mô hình phát triển kinh tế xã hội, bảo vệ môi trường và hạn chế các rủi ro do thiên tai và con người gây ra. Các giải pháp về quản lý và sử dụng nguồn nước có hiệu quả sẽ là có đóng góp cho việc sử dụng hợp lý nguồn nước, giải quyết các mâu thuẫn và xung đột trong việc chia sẻ nguồn nước giữa các ngành kinh tế, các địa phương trong vùng góp phần vào công cuộc xóa đói giảm nghèo, phát triển kinh tế xã hội theo hướng bền vững.

Đề tài cũng sẽ là cơ hội để đào tạo các nhà khoa học trẻ tiếp cận với công tác nghiên cứu, nâng cao kỹ năng về sử dụng các công cụ tiên tiến, hiện đại như phần mềm tính tóan, GIS, các phương pháp tổ chức thực hiện cũng như tiếp cận với các kiến thức hiện đại.

Đối với các cơ quan ứng dụng có được những thông tin cập nhật và những cơ sở khoa học tin cậy cho công tác lập kế hoạch đồng thời giúp cho các cán bộ quản lý, các cán bộ kỹ thuật có một cách nhìn toàn diện hơn, sâu hơn trong lĩnh vực quản lý tài nguyên nước.

Nghiên cứu; Khả năng chịu tải; Dòng chảy tối thiểu; Sông Vu Gia; Thu Bồn

Ứng dụng

Đề tài KH&CN

Khoa học kỹ thuật và công nghệ,

Số lượng công bố trong nước: 4

Số lượng công bố quốc tế: 0

Không

Tiến sĩ: Hỗ trợ 01 NCS Thạc sỹ: 01