Các nhiệm vụ khác
- Đánh giá hiệu quả hỗ trợ điều trị thoái hoá khớp gối bằng viên Bồng cốt đan trên lâm sàng cận lâm sàng tại một số cơ sở khám chữa bệnh tỉnh Phú Thọ
- Nghiên cứu đánh giá tính an toàn và tính sinh miễn dịch trên người của vắc xin viêm não Nhật Bản bất hoạt sản xuất trên tế bào vero tại Việt Nam
- Bảo tồn và lưu giữ nguồn gen vi sinh vật công nghiệp thực phẩm
- Hợp tác nghiên cứu thay đổi hành vi, di truyền và yếu tố nguy cơ trong bệnh tự kỷ
- Nghiên cứu chế tạo các mẫu chuẩn thành phần chất bảo vệ thực vật phục vụ công tác quản lý đo lường trong vệ sinh an toàn thực phẩm
- Bảo tồn và phát triển nghệ thuật dân gian (dân ca dân vũ diễn xướng dân gia) cho 4 dân tộc tiêu biểu tỉnh Bình Thuận thông qua hình thức biểu diễn nghệ thuật
- Nghiên cứu các thuật toán phân tích phổ hấp thụ của hỗn hợp đa thành phần với công cụ phân tích wavelet
- Chế tạo điện cực quang trên cơ sở vật liệu nano phân nhánh ba chiều cho hiệu suất cao trong tách nước quang điện hóa
- Nghiên cứu giải pháp quy hoạch thiết kế hạ tầng kỹ thuật kiến trúc trường học đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông
- Văn hóa tộc người và giao thoa văn hóa ở miền Tây Cao Bằng
liên kết website
Lượt truy cập
- Ứng dụng kết quả thực hiện nhiệm vụ
2018-02-099
Xây dựng mô hình nâng cao thu nhập của người dân thông qua liên kết ứng dụng đồng bộ các TBKT trong sản xuất lúa hàng hóa và rau an toàn (dưa chuột rau cải cao cấp bí xanh bí đỏ) tại xã điểm xây dựng nông thôn mới Phú Thịnh huyện Kim Động Hưng Yên
Viện Nước, Tưới tiêu và Môi trường
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Quốc gia
Khoa học và công nghệ phục vụ xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2011-2015
ThS. Phạm Đình Kiên
ThS. Trần Hưng, ThS. Vũ Huy Chưởng, TS. Lê Xuân Quang, ThS. Nguyễn Thị Loan, KS. Ngô Minh Đức, ThS. Nguyễn Thị Ngọc Anh, KS. Vũ Thanh Trà, ThS. Dương Thị Kim Thư, ThS. Đỗ Thị Lan
Khoa học công nghệ trồng trọt khác
29/05/2017
2018-02-099
(1) Mô hình sản xuất lúa hàng hóa:
Dự án đã xây dựng thành công mô hình sản xuất lúa hàng hóa quy mô 50,2 ha ứng dụng đồng bộ các tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất gồm: quy hoạch lại đồng ruộng, tổ chức dồn điền đổi thửa, áp dụng các tiến bộ kỹ thuật trong canh tác (từ khâu làm đất, làm mạ, cấy thưa, bón phân và chăm sóc, phòng trừ dịch hại, quy trình tưới tiết kiệm nước giảm phát thải khí nhà kính, ...) và xây dựng được chuỗi liên kết tổ chức sản xuất, tiêu thụ sản phẩm.
(2). Mô hình sản xuất rau an toàn:
Dự án đã xây dựng thành công mô hình chuyển đổi 5,5 ha cơ cấu cây trồng từ khu vực đất lúa kém hiệu quả sang sản xuất rau an toàn bao gồm: mô hình sản xuất rau an toàn trong nhà lưới quy mô 0,5 ha và mô hình sản xuất rau an toàn ngoài đồng quy mô 5 ha, nhà kính ươm cây 600 m2, nhà sơ chế bảo quản... Toàn bộ diện tích sản xuất rau an toàn đã được cấp giấy chứng nhận VietGAP. Đặc biệt Dự án đưa ứng dụng Ezcheck trên điện thoại trong việc truy xuất nguồn gốc sản phẩm qua mã QR (một loại mã vạch hai chiều) vào các sản phẩm rau của dự án nhằm bảo vệ thương hiệu và quản lý sản phẩm.
Mô hình đã tạo dựng được mối liên kết sản xuất bền vững với sự tham gia chặt chẽ và sát sao của các cấp chính quyền địa phương, các cơ quan quản lý sản xuất nông nghiệp, các cơ quan khoa học và đặc biệt là các doanh nghiệp cùng với các hộ nông dân để thực hiện theo phương thức sản xuất mới, trong đó mỗi hộ nông dân góp đất tham gia mô hình đã thực sự trở thành những “công nhân nông nghiệp”.
(3) Về kết quả đào tạo và kết quả khác:
Dự án đã đào tạo, chuyển giao kỹ thuật công nghệ cho trên 500 lượt nông dân tại xã Phú Thịnh. Các mô hình sản xuất được chọn là mô hình điểm của tỉnh Hưng Yên đã có nhiều tổ chức, cá nhân đến quan học hỏi kinh nghiệm (như sinh viên khoa Kỹ thật Tài nguyên nước - Đại học Thủy lợi, sinh viên khoa Môi trường - Đại học Điện lực, Hội Nông dân tỉnh Hưng Yên ... )
Bên cạnh đó Dự án có tác động lớn đến sự chuyển dịch kinh tế của huyện, tạo ra những vùng sản xuất chuyên canh tập trung có giá trị kinh tế cao. Dự án góp phần nâng cao thu nhập của nông hộ tham gia mô hình (100% hộ dân tham gia dự án không còn hộ nghèo) và năm 2016 xã Phú Thịnh được công nhận đạt chuẩn xây dựng Nông thôn mới.
Dự án đã hoàn thành vượt mức so với mục tiêu đề ra ban đầu và đảm bảo yếu tố bền vững và khả thi khi nhân rộng.
(1) Đối với mô hình lúa hàng hóa
Lãi thuần trên 1 ha của mô hình: sau khi trừ chi phí sản xuất, thu nhập thuần túy trong vụ Mùa 2015 đạt 17,3 triệu đồng/ha/vụ, cao hơn so với ngoài mô hình 3,9 triệu đồng/ha/vụ, trong vụ Xuân 2016, lãi thuần thu được 22,4 triệu đồng/ha/vụ, cao hơn so với so với lãi thuần thu được ngoài mô hình 5,6 triệu đồng/ha/vụ. Tổng lãi thuần thu nhập 1 năm/1 ha trong mô hình cao hơn 9,5 triệu đồng, tăng 31% so với ngoài mô hình.
(2) Đối với mô hình rau an toàn trong nhà lưới
Kết quả tính toán hiệu quả kinh tế của các loại rau cải trong mô hình cho thấy, tổng thu nhập của toàn mô hình rau an toàn trong nhà lưới 0,5 ha trong năm 2016 là 734.025.000 đồng (tương đương 1.468.050.000 đồng/ha); lãi thuần thu được từ mô hình 0,5ha trong năm 2016 là 447.215.000 đồng (tương đương 894.430.000 đồng/ha/năm).
Như vậy, việc chuyển đổi sản xuất lúa sang sản xuất rau an toàn mang lại hiệu quả kinh tế rất lớn. Trong khi sản xuất lúa 2 vụ thu được lãi thuần khoảng 30.200.000 đồng/ha/năm (mục 2.1.3) thì sản xuất rau an toàn trong nhà lưới thu được lãi thuần là 894.430.000 đồng/ha/năm, gấp 29,6 lần lãi thuần từ sản xuất lúa.
(3) Đối với mô hình rau an toàn ngoài đồng
Tổng lãi thuần thu được năm 2016 từ sản xuất các loại rau bao gồm dưa chuột, bí xanh, bí đỏ trên 5 ha mô hình sản xuất rau an toàn ngoài đồng đạt hơn 1,47 tỷ đồng/năm (tương đương với trung bình thu được 434,9 triệu đồng/ha/năm).
Từ các kết quả phân tích trên cho thấy, việc chuyển đổi từ sản xuất lúa truyền thống sang sản xuất rau an toàn đã mang lại hiệu quả kinh tế rõ rệt. Trung bình lãi thuần từ sản xuất lúa truyền thống chỉ đạt khoảng 30,2 triệu đồng/ha năm, trong khi đó lãi thuần từ mô hình trồng rau an toàn bao gồm dưa chuột, bí xanh, bí đỏ thu được là 434,9 triệu đồng/ha, gấp 14,4 lần so với mô hình trồng lúa truyền thống.
Rau an toàn; Lúa; Sản xuất; Kỹ thuật; Chất lượng; Dưa chuột; Rau cải; Bí đỏ; Hưng Yên
Ứng dụng
Dự án KH&CN
Giống lúa, và các quy trình sản xuất lúa, rau tiếp tục được ứng dụng tại xã Phú Thịnh và mở rộng ra các xã lân cận và vùng ĐBSH.
(1) Đối với mô hình lúa hàng hóa
Lãi thuần trên 1 ha của mô hình: sau khi trừ chi phí sản xuất, thu nhập thuần túy trong vụ Mùa 2015 đạt 17,3 triệu đồng/ha/vụ, cao hơn so với ngoài mô hình 3,9 triệu đồng/ha/vụ, trong vụ Xuân 2016, lãi thuần thu được 22,4 triệu đồng/ha/vụ, cao hơn so với so với lãi thuần thu được ngoài mô hình 5,6 triệu đồng/ha/vụ. Tổng lãi thuần thu nhập 1 năm/1 ha trong mô hình cao hơn 9,5 triệu đồng, tăng 31% so với ngoài mô hình.
(2) Đối với mô hình rau an toàn trong nhà lưới
Kết quả tính toán hiệu quả kinh tế của các loại rau cải trong mô hình cho thấy, tổng thu nhập của toàn mô hình rau an toàn trong nhà lưới 0,5 ha trong năm 2016 là 734.025.000 đồng (tương đương 1.468.050.000 đồng/ha); lãi thuần thu được từ mô hình 0,5ha trong năm 2016 là 447.215.000 đồng (tương đương 894.430.000 đồng/ha/năm).
Như vậy, việc chuyển đổi sản xuất lúa sang sản xuất rau an toàn mang lại hiệu quả kinh tế rất lớn. Trong khi sản xuất lúa 2 vụ thu được lãi thuần khoảng 30.200.000 đồng/ha/năm (mục 2.1.3) thì sản xuất rau an toàn trong nhà lưới thu được lãi thuần là 894.430.000 đồng/ha/năm, gấp 29,6 lần lãi thuần từ sản xuất lúa.
(3) Đối với mô hình rau an toàn ngoài đồng
Tổng lãi thuần thu được năm 2016 từ sản xuất các loại rau bao gồm dưa chuột, bí xanh, bí đỏ trên 5 ha mô hình sản xuất rau an toàn ngoài đồng đạt hơn 1,47 tỷ đồng/năm (tương đương với trung bình thu được 434,9 triệu đồng/ha/năm).
Từ các kết quả phân tích trên cho thấy, việc chuyển đổi từ sản xuất lúa truyền thống sang sản xuất rau an toàn đã mang lại hiệu quả kinh tế rõ rệt. Trung bình lãi thuần từ sản xuất lúa truyền thống chỉ đạt khoảng 30,2 triệu đồng/ha năm, trong khi đó lãi thuần từ mô hình trồng rau an toàn bao gồm dưa chuột, bí xanh, bí đỏ thu được là 434,9 triệu đồng/ha, gấp 14,4 lần so với mô hình trồng lúa truyền thống.
